Hiển thị các bài đăng có nhãn Xu Hướng Việc Làm. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Xu Hướng Việc Làm. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 8 tháng 12, 2016

Tìm hiểu về căng thẳng “cuộc chiến” tôm

Song, nơi đây lại đang xảy ra “cuộc chiến” tranh mua tôm nguyên liệu giữa các cơ sở thu mua, chế biến tôm xuất khẩu trong tỉnh với các thương lái ngoài tỉnh. Cuộc chiến” này đã đẩy giá tôm nguyên liệu liên tục tăng. Dù giá tôm nguyên liệu tăng, người nuôi được hưởng lợi nhưng các cơ sở chế biến tôm xuất khẩu ở Trà Vinh hiện đang lâm vào tình trạng “đói” nguyên liệu.
Trong khi các doanh nghiệp xuất khẩu tôm đang cố gắng đẩy mạnh sản xuất để hoàn tất các đơn hàng đã ký có kỳ hạn giao cuối năm, thì thị trường tôm nguyên liệu lại xuất hiện việc nông dân neo hàng chờ giá. Điều này khiến cho tình trạng căng thẳng do thiếu tôm nguyên liệu trở nên trầm trọng hơn, nguy cơ ảnh hưởng đến kim ngạch xuất khẩu tôm.
Ước tổng kim ngạch xuất khẩu tôm 9 tháng đầu năm 2013 đạt trên 2 tỷ USD, trong đó tôm chân trắng 952 triệu USD, tăng 80%, tôm sú 928 triệu USD, tăng 2,1% so với cùng kỳ năm ngoái.
Khó cho doanh nghiệp xuất khẩu
Ước tổng kim ngạch xuất khẩu tôm 9 tháng đầu năm 2013 đạt trên 2 tỷ USD
Ngoài yếu tố dịch bệnh làm tôm chết hàng loạt ảnh hưởng đến sản lượng tôm trong nước, rồi đến sự cạnh tranh thu mua nguyên liệu từ các thương lái nước ngoài, làm cho tình hình thiếu hụt nguồn tôm ngày càng thêm căng thẳng, góp phần đẩy giá tôm nguyên liệu tăng lên gần gấp đôi đang gây khó cho doanh nghiệp, thì gần đây việc người nuôi tôm “neo” hàng chờ giá đã tạo sức ép khá lớn cho các doanh nghiệp, và ảnh hưởng không nhỏ đến cả ngành chế biến và xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam!
Tỉnh Trà Vinh hiện có khoảng 27.000 lượt hộ thả nuôi hơn 2 tỷ con tôm sú giống và khoảng 856 triệu con tôm thẻ chân trắng trên diện tích 26.000 ha. Trong đó, có khoảng 800 triệu con tôm giống bị thiệt hại, chiếm khoảng 28% lượng giống thả nuôi, riêng số còn lại hiện đang phát triển tốt hứa hẹn một vụ mùa bội thu.
Từ trung tuần tháng 9, các huyện ven biển Trà Vinh gồm: Duyên Hải, Cầu Ngang, Trà Cú và Châu Thành bước vào thu hoạch rộ vụ tôm nuôi năm 2013, trong khi giá tôm đang ở mức cao đã làm nức lòng nông dân.
Song, nơi đây lại đang xảy ra “cuộc chiến” tranh mua tôm nguyên liệu giữa các cơ sở thu mua, chế biến tôm xuất khẩu trong tỉnh với các thương lái ngoài tỉnh.
“Cuộc chiến” này đã đẩy giá tôm nguyên liệu liên tục tăng. Dù giá tôm nguyên liệu tăng, người nuôi được hưởng lợi nhưng các cơ sở chế biến tôm xuất khẩu ở Trà Vinh hiện đang lâm vào tình trạng “đói” nguyên liệu.
Công ty Cổ phần Thủy sản Cửu Long chế biến, xuất khẩu thuỷ sản tỉnh Trà Vinh cho biết, việc tranh mua tôm nguyên liệu không chỉ xảy ra trong thời gian gần đây mà đã có từ đầu năm kéo đến nay, khiến việc thu mua tôm nguyên liệu của Công ty gặp nhiều khó khăn.
Mặc dù giá tôm được Công ty mua rất cao, tăng gấp rưỡi so với năm 2012 nhưng vẫn không mua được tôm... Do khó khăn trong thu mua tôm nguyên liệu nên trong 8 tháng đầu năm 2013, Công ty chỉ đạt trên 53% kế hoạch xuất khẩu.
Liên kết nông dân - doanh nghiệp lỏng lẻo
Đến hết tháng 9/2013, diện tích thả tôm nuôi của Cà Mau đạt gần 267.000 ha, sản lượng thu hoạch trên 100.000 tấn, chiếm chưa tới 78% kế hoạch của năm. Nếu năm 2012, giá tôm sú chỉ tăng đến mức 170.000 đồng/kg tùy loại thì hiện nay đã lên gần 240.000 đồng/kg.
So với cách đây 2 tháng, mức giá này đã tăng trên 40.000 đồng. Khi thấy giá tôm tăng liên tục, thay vì tranh thủ bán tôm thì không ít bà con nông dân lại mạo hiểm “neo” tôm để chờ giá.
Hệ lụy của hành động “neo” tôm của người nông dân đã đẩy các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu thủy sản lâm vào tình trạng bế tắc, vì thiếu nguyên liệu cho các hợp đồng đã ký sắp đến thời hạn giao hàng. Nhiều doanh nghiệp bắt buộc chấp nhận thua lỗ, mua tôm nguyên liệu ở các tỉnh.
Theo Công ty Cổ phần Tập đoàn thủy sản Minh Phú, việc nông dân neo hàng không chỉ gây khó khăn cho doanh nghiệp mà còn tiềm ẩn nhiều rủi ro cho chính người nuôi tôm một khi dịch bệnh xảy ra, đặc biệt là giá cả quay đầu xuống thấp.
“Nông dân cứ nghĩ giá tôm tăng sẽ tiếp tục tăng và họ neo tôm lại. Điều này rất nguy hiểm, vì hiện nay hầu hết các doanh nghiệp sắp hoàn thành đơn hàng xuất khẩu trước ngày 15/10/2013. Sau thời gian hết đơn hàng, doanh nghiệp không mua thì giá sẽ giảm xuống”, ông Lê Văn Quang, Tổng giám đốc Công ty Cổ phần Tập đoàn Thủy sản Minh Phú cho biết.
Hiện Cà Mau có 31/32 doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu thủy sản chỉ hoạt động 30-40% công suất. Điều nghịch lý này xảy ra ở một tỉnh có diện tích và sản lượng nuôi tôm lớn nhất.
Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Cà Mau khuyến cáo, bà con không nên có tâm lý găm hàng chờ tăng giá, như vậy sẽ ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động xuất khẩu.
Một khi doanh nghiệp xuất khẩu tôm gặp khó thì nông dân là người chịu thua thiệt còn nhiều hơn cả doanh nghiệp. Điều này cho thấy mối liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân quá lỏng lẻo, chưa có tiếng nói chung.

Giới thiệu với bạn về Gỗ Trường Thành: Gỗ tốt nhưng đã tróc sơn

Điều đó cho thấy, vốn phục vụ cho sản xuất của Công ty chủ yếu phát xuất từ vốn vay. Cũng trong thời điểm đó (năm 2011), trả lời phỏng vấn của báo giới về khoảng vay 1.000 tỷ và những phân tích của các công ty chứng khoán về mức độ rủi ro khi đầu tư vào cổ phiếu TTF, ông Võ Trường Thành, Chủ tịch TTF cho rằng, những phân tích này khá chuẩn xác.
Vừa qua, 9/13 ngân hàng cho TTF vay vốn đã cùng Công ty ngồi lại nhằm tìm cách giải quyết khoản vay nghìn tỷ và giúp TTF tránh nguy cơ đi vào thế bế tắc. Đây cũng là lần thứ hai tại Bình Dương, thêm một nhà xuất khẩu hàng đầu nữa khiến các ngân hàng sốt ruột.
Trước đó, vào tháng 6/2013, 7 ngân hàng đã đến "bao vây" nhà xưởng của Công ty Trường Ngân (Top 10 DN xuất khẩu cà phê của Việt Nam) để "đòi" khoản nợ 600 tỷ đồng.
TS. Lê Xuân Nghĩa, Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển kinh doanh từng cảnh báo, nếu năm 2012, nhiều DN vừa và nhỏ phá sản, vỡ nợ thì năm 2013, tình trạng này sẽ xảy ra ở DN lớn. Vậy, đâu là nguyên do khiến những DN có tên tuổi như Trường Thành phải gánh khoản nợ trên 1.000 tỷ và lâm vào tình cảnh như ngày nay?
Sai một ly, đi ngàn tỷ?
TTF đã phải bán tháo kho gỗ Teak khi tỷ lệ loại gỗ này sử dụng cho sản phẩm xuất khẩu liên tục giảm từ 23% xuống còn 5% trong những năm 2009 - 2011.
Dù ông Võ Trường Thành, Tổng giám đốc Gỗ Trường Thành xuất thân từ một nhà giáo và cơ ngơi của TTF chỉ bắt nguồn từ một xưởng sơ chế gỗ tại Đắk Lắk nhưng những thành quả mà công ty này có được khiến bao người khâm phục.
Theo Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam, cả nước có hơn 2.000 DN và cơ sở sản xuất - chế biến gỗ; trong đó có 240 DN FDI (có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài) và 400 DN Việt Nam tham gia xuất khẩu.
Song, chỉ 30 DN Việt là có đủ năng lực tiếp thị, bán hàng cho nước ngoài mà không thông qua trung gian, và dĩ nhiên, không thể thiếu Trường Thành. Thậm chí, năm 2006, TTF nằm trong Top 17 công ty có kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ cao nhất Việt Nam.
Và từ thời điểm đó, TTF luôn giữ thứ hạng DN xuất khẩu lớn khi năm 2011, họ dẫn đầu trong lĩnh vực chế biến gỗ của Việt Nam về doanh số (khoảng 3.000 tỷ đồng) và quy mô lên đến 8 nhà máy; đặc biệt năm 2012, TTF lọt vào nhóm 3 nhà sản xuất - xuất khẩu hàng đầu Việt Nam. Những thông tin TTF đang đối mặt với nợ nần khiến không ít người hoang man và tiếc nuối.
Dẫu biết rằng, vay nợ là điều khó tránh với một DN nhưng phải gánh trên 1.000 tỷ đồng và vốn lưu động phục vụ cho sản xuất, kinh doanh gần như lúc nào cũng ở vào thế bị động thì quả thật không thể xem nhẹ.
Có nhiều nguyên nhân được chỉ ra trước những khó khăn của TTF, nhưng theo chia sẻ của một chuyên viên phân tích ngành gỗ, chính chiến lược về sản phẩm là nguồn cơn dẫn đến những khó khăn hiện nay của TTF.
Quay trở lại năm 2005, đây là giai đoạn TTF đạt kết quả kinh doanh tốt. Cụ thể trong 3 năm, từ 2005 - 2007, doanh thu thuần và lợi nhuận trước thuế của TTF đều tăng trưởng trên 100%. Cũng trong giai đoạn này, đồ gỗ ngoại thất và nội thất lần lượt chiếm tỷ trọng lớn trong 4 nhóm sản phẩm của Công ty: 64,6% và 20,92%.
Sở dĩ doanh thu nhóm đồ gỗ ngoại thất tăng vì nguyên liệu chủ yếu làm bằng gỗ Teak (giá tỵ), có giá trị cao gần gấp đôi gỗ khác nên khi tăng sản lượng dòng hàng làm bằng nguyên liệu này tác động mạnh đến doanh thu của TTF. Mục đích chuyển sang gỗ Teak của TTF cũng nhằm vào việc hạn chế đối thủ cạnh tranh (thay vì sử dụng gỗ hương).
Thêm nữa, vào năm 2006, tỷ lệ gỗ dùng trong sản xuất của TTF là Teak (chiếm 33%); bạch đằng (30%) (chủ yếu nhập từ châu Phi và Nam Mỹ); trâm, xoan... (15%); hương, căm xe... (9%). Thông thường, 80% nguyên liệu gỗ của TTF đều nhập từ nước ngoài, có nguồn gốc phục vụ cho sản xuất và xuất khẩu; chỉ 20% còn lại là nguyên liệu trong nước, có giá trị thấp.
Như đã nói, Teak là loại gỗ có giá trị, nên khi gỗ nguyên liệu tăng 20% thì giá thành đồ gỗ tăng 10%. Cho nên, giá bán của TTF luôn cao hơn giá bán của các công ty cùng ngành từ 5 - 10%. Do xuất khẩu vẫn tốt và châu Âu là thị trường chủ lực nên việc lựa chọn phân khúc sản phẩm này thời điểm đó là phù hợp.
Thậm chí, Công ty còn dự kiến năm 2008 sẽ ra giá bán cao hơn các công ty đồng ngành 15% nhằm sàng lọc bớt khách hàng phân khúc thấp nhằm mang lại lợi nhuận cao hơn.
Tuy nhiên, khi thị trường bước vào khủng hoảng, nhu cầu về đồ gỗ đã thay đổi đáng kể. Từ 2009 - 2011, tỷ lệ gỗ Teak sử dụng trên thực tế (căn cứ trên doanh thu xuất khẩu) liên tục giảm từ 23% xuống còn 5% do 65% có nhu cầu dùng hàng làm bằng gỗ nguyên liệu có giá trị thấp. Ngoài ra, tỷ trọng hàng hóa xuất khẩu và thị trường cũng có sự dịch chuyển rõ rệt.
Nếu trước đây, châu Âu là thị trường chiếm đến 60%, sản lượng xuất khẩu của TTF và sản phẩm ngoại thất cao cấp chiếm tỷ trọng lớn thì khi kinh tế khủng hoảng, hàng nội thất trung bình và giá rẻ "lên ngôi".
Đồ gỗ ngoại thất "thất sủng"; Mỹ chia sẻ thị trường với châu Âu. Ngay như năm 2010 - 2011, thị trường Mỹ dẫn đầu về sản lượng xuất khẩu của TTF, luôn chiếm trên 50% và chủ yếu là hàng nội thất có giá cạnh tranh.
Để sản xuất hàng hóa đáp ứng nhu cầu mới, TTF phải nhập thêm các loại gỗ mà trước đây Công ty chưa có sự chuẩn bị như: cao su, tràm,... Như vậy, nguồn nguyên liệu gỗ Teak và bạch đằng xem như "không có đất dụng võ”, diễn tiến thị trường đã không diễn ra như dự đoán của TTF.
Gỗ Teak ứ đọng đến mức, năm 2011, ban lãnh đạo TTF quyết bán hàng tồn kho mà công ty đã nhập dự trữ trước đó ở mức 250 - 300 tỷ đồng và chấp nhận lỗ lên đến 20% để giải quyết nguồn vốn ngắn hạn cho sản xuất và giải tỏa bớt áp lực về chi phí lãi vay.
Năm 2010, trong khi tỷ trọng sử dụng gỗ Teak chỉ còn 8% thì nhu cầu về đồ gỗ làm từ gỗ cao su bỗng nhiên tăng vọt đến 43%. Giá nguyên liệu tăng mạnh do phía Trung Quốc, thị trường xuất khẩu đồ gỗ lớn thứ hai khu vực châu Á (Việt Nam đứng thứ 2) nhập khẩu ồ ạt.
Trong tình thế này, TTF hầu như không kịp trở tay. Ngược lại, đến năm 2011 - 2012, tỷ lệ sử dụng nguyên liệu gỗ cao su chỉ còn 18%; tràm, keo, xoan đào... "đảo ngược" tình thế với 60% vì một lý do đơn giản là xu hướng hàng giá rẻ vẫn tồn tại, thậm chí lớn hơn trước.
Tuy nhiên, với thị trường nội địa, đang chiếm khoảng 40% doanh thu của TTF lại chuộng gỗ cherry, gỗ đỏ, hương... để sử dụng để trang trí nội thất. Vì lẽ đó, TTF phải duy trì tồn kho nguyên liệu gỗ giá trị ở mức cao nhưng lại cần thời gian và vốn để chuẩn bị nguồn nguyên liệu cho những nhu cầu mới.
Leo thang trên dao
TTF đầu tư không đúng thời điểm và gánh nặng nợ nần tăng chóng mặt khi phải chấp nhận lãi suất 10, thậm chí 20%/năm.
Mầm móng của những khó khăn ngày nay tại Gỗ Trường Thành không chỉ đơn thuần là do chiến lược sản phẩm mà còn nằm ở vấn đề đầu tư. Chia sẻ về trường hợp của TTF, ông Huỳnh Văn Hạnh, Phó chủ tịch Hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ TP.HCM (HAWA), cho rằng, TTF không phải là một DN làm ăn lỗ, đã có lúc đây là một trong số DN đứng đầu ngành, đơn hàng làm không kịp, phải phân bổ lại cho các DN khác trong nước.
Song, cũng cần phải nhìn nhận, TTF đầu tư không đúng thời điểm, khi họ bắt đầu, lãi suất ngân hàng chỉ 5 - 6% và sau đó thì phải chấp nhận lãi suất 10, thậm chí 20%/năm, khiến DN bị hụt vốn (theo báo cáo thường niên 2012 của TTF, DN này đang chịu mức lãi vay 11 - 17%/năm, riêng ba quý đầu 2011 là 17 - 22%).
Không chỉ đầu tư vào tài sản cố định (năm 2006, đầu tư vào 3 nhà máy chế biến gỗ tại Đắk Lắk và Bình Dương; đầu tư trồng rừng) mà kể từ năm 2007, TTF bắt đầu đầu tư tài chính vào những công ty ngoài ngành.
Tuy TTF tuyên bố là chỉ duy trì mức đầu tư giữa ngành nghề truyền thống và tài chính theo tỷ lệ 70:30, nhưng rõ ràng, những khoản đầu tư dài hạn này tác động không nhỏ đến dòng tiền của TTF.
Cụ thể, năm 2007, TTF rót 250 tỷ đầu tư vào bất động sản, y tế, thủy sản... và liên tiếp trong các năm sau đó, từ 2008 - 2010, TTF cứ đều đặn đầu tư vào kênh này. Tính đến ngày 31/12/2012, tổng giá trị đầu tư dài hạn của TTF ở mức 519 tỷ đồng (sau khi trích lập dự phòng 32,2 tỷ đồng; khoản này còn 487 tỷ đồng).
Cho đến thời điểm này, TTF vẫn chưa có nguồn thu từ nguồn đầu tư trên. Để giải quyết vốn sản xuất và chi trả các chi phí tài chính đang đè nặng, TTF đang có động thái cơ cấu lại các khoản đầu tư dài hạn, trong đó có việc thoái vốn khỏi một số lĩnh vực như: y tế, bất động sản (hiện TTF đang sở hữu bất động sản nhà ở tại Nhơn Trạch - Đồng Nai, Bình Dương và bất động sản công nghiệp, du lịch tại Đắk Lắk).
Tuy nhiên, ở thời điểm khó khăn này, việc chuyển nhượng hoặc khai thác các dự án bất động sản để tạo ra nguồn thu cũng không phải là chuyện đơn giản.
Mặt khác, sau khi chuyển nhượng quyền phát triển rừng cho đối tác Nhật Bản OJI tại Phú Yên; TTF cũng tính đến hướng chuyển nhượng quyền phát triển rừng mà Công ty đã đầu tư (trong kế hoạch trồng 100.000 ha rừng của công ty) tại Đắk Lắk lẫn Đắk Nông.
Việc gần đây, 9/13 ngân hàng "sốt ruột" trước khoản nợ ngàn tỷ của TTF là điều được dự báo. Vì trước đó, vào năm 2011, theo TTF, Công ty bước vào giai đoạn khó khăn không nhỏ về ngân lưu. "Vạ lây" từ những khó khăn của các DN xuất khẩu cà phê, TTF đã bị một số ngân hàng từ chối những khoản vay mới.
Cụ thể, Ngân hàng Phát triển Việt Nam đã thu hồi hết vốn vay của hai công ty con thuộc TTF tại Đắk Lắk với 160 tỷ; trong khi các ngân hàng thương mại nhỏ cũng rút về 100 tỷ và Vietcombank là 40 tỷ.
Theo tính toán của TTF, cả công ty con và TTF bị rút vốn vay khoảng 300 tỷ đồng, dẫn đến thiếu hụt một số tiền đáng kể trong sản xuất, kinh doanh. Riêng năm 2012, dòng tiền về của TTF bị "giữ bất ngờ" từ một số ngân hàng và việc cắt, giảm hạn mức tín dụng đã gây khó cho Công ty.
Điều đó cho thấy, vốn phục vụ cho sản xuất của Công ty chủ yếu phát xuất từ vốn vay. Cũng trong thời điểm đó (năm 2011), trả lời phỏng vấn của báo giới về khoảng vay 1.000 tỷ và những phân tích của các công ty chứng khoán về mức độ rủi ro khi đầu tư vào cổ phiếu TTF, ông Võ Trường Thành, Chủ tịch TTF cho rằng, những phân tích này khá chuẩn xác.
Còn về vấn đề nợ, trong điều kiện kinh tế tốt, nợ là chuyện bình thường của DN. Nhưng thời gian gần đây, với nhiều bất ổn về kinh tế vĩ mô, công ty nào sử dụng đòn bẩy nợ lớn sẽ có nhiều rủi ro và TTF đang hứng chịu những rủi ro đó. Ông Thành dẫn chứng, mỗi năm, TTF phải trả lãi khá cao.
Cụ thể, năm 2009, Công ty trả lãi 140 tỷ, trong khi lợi nhuận trước lãi vay là 165 tỷ. Đại diện TTF cũng cho hay, ban lãnh đạo TTF đã tính đến chuyện phát hành thêm cổ phiếu để tăng vốn chủ sở hữu và giảm được lãi vay, nhưng không khả thi. Do đó, họ chỉ còn biết nỗ lực trong điều hành và nhờ vào thương hiệu để nhận được đơn hàng đều đặn.
Cũng từ thời điểm 2009 đến nay, chi phí tài chính của TTF không hề giảm, sự gia tăng này chủ yếu do chi phí lãi vay tăng, tồn kho chưa thanh lý và đầu tư dài hạn chưa có lời.
Thậm chí như năm 2011, chi phí lãi vay đã lên đến gần 243 tỷ đồng; chiếm 8,06% doanh thu (nếu so với hai công ty niêm yết cùng ngành, chi phí tài chính/doanh thu thuần của TTF lớn hơn, cụ thể là 0,37% so với 2,07%).
Tuy nhiên, khó khăn đáng kể hơn hết là năm vừa rồi, hầu như tiền mặt phục vụ cho sản xuất kinh doanh là điều "xa xỉ” với TTF. Công ty thế chấp hầu như toàn bộ tồn kho nguyên liệu để vay ngân hàng. Do đó, khi cần bán, hoặc sử dụng, họ phải có nguồn tiền tương ứng chuyển cho ngân hàng. Đây là rủi ro mà TTF đã dự báo xảy ra trong năm 2013 nếu dòng tiền âm.
Thiếu vốn, khó vay ngân hàng, không thể tăng vốn qua phát hành cổ phiếu đã dẫn TTF đến tình trạng chỉ có thể hoàn tất khoảng 40% những đơn hàng đã nhận trong quý IV/2012 (năm 2012, kết quả kinh doanh hợp nhất, TTF lỗ 2,9 tỷ; đây cũng là lần đầu tiên bị sụt giảm doanh thu lẫn lợi nhuận).
Giá như...
TTF "chết" vào thời điểm Việt Nam đang có rất nhiều lợi thế về xuất khẩu đồ gỗ. Nghịch lý này hẳn phải khiến lãnh đạo của TTF nuối tiếc mà than rằng "giá như đầu tư đúng thời điểm, lãi suất tiền vay không có sự biến động quá lớn...".
Để một DN xuất khẩu đồ gỗ hàng đầu như TTF rơi vào cảnh nợ bủa vây và mất khả năng chi trả các khoản nợ đến hạn cũng như lượng tiền mặt chỉ còn vỏn vẹn gần 2 tỷ đồng (tính đến ngày 30/6/2013), rõ ràng phải nói đến chiến lược kinh doanh của chính DN đó.
Điển hình, với TTF là chuyện đầu tư không đúng thời điểm, đặc biệt là các khoản đầu tư dài hạn đã vượt quá khả năng "chịu đựng" về tài chính của Công ty; định vị dòng sản phẩm chủ lực không phù hợp ngay khi thị thị trường có dấu hiệu suy giảm.
Song, theo quan điểm của ông Hạnh, Phó chủ tịch HAWA, giá như lãi suất tiền vay không có sự biến động quá lớn thì DN không "chết" như ngày hôm nay. Tính trong khoảng vài năm trở lại đây, nhu cầu về đồ gỗ nội thất đạt khoảng 350 tỷ USD.
Trung Quốc và Việt Nam là hai đầu mối cung cấp lớn nhất khu vực châu Á, trong khi Đức, Ý và Canada thì đang đóng cửa một số nhà máy. Nguồn cung ở châu Âu giảm, Trung Quốc đang bị phía Mỹ áp thuế chống bán phá giá khá cao, từ 40 - 200%, thậm chí có những DN cao đến mức 280%.
Đây là lợi thế cho DN Việt Nam tạo sự đột phá trên thị trường thế giới. Tuy nhiên, đồ gỗ Việt Nam chỉ chiếm 20% tổng số đó. Điểm xuất phát này quá thấp. Do đó, nếu cộng với sự bất ổn về chính sách kinh tế vĩ mô thì rất khó để DN Việt Nam tạo đột phá đi lên.
Cũng theo đại diện của HAWA, hiện nay, lợi thế của DN Việt Nam là chủ động được nguồn nguyên liệu gỗ tràm bông vàng và cao su và đây là nguyên liệu thương hiệu của Việt Nam. Tuy nhiên, với chính sách lãi suất cho vay như hiện nay thì rất khó cho DN xuất khẩu.
Điều này sẽ càng khó cho DN xuất khẩu vì ngay như TTF, ngay trong giai đoạn khó khăn, họ ứng tiền mua nguyên liệu trước nhưng bên mua lại trả sau và có hiện tượng giãn tiến độ.
Do đó, các cơ quan quản lý nên hỗ trợ DN xuất khẩu những thông tin và dự báo đầy đủ về thị trường; cũng như có chính sách tín dụng "mềm dẻo" hơn với những ngành xuất khẩu chủ lực của Việt Nam?

Tìm hiểu về thị trường phô mai: Đua nóng đến tương lai

Nhận định về sự xuất hiện của DN khối nội đối với phân khúc phô mai, ông Hồ Tiến Sỹ, Giám đốc Thương hiệu cao cấp Công ty Lantabrand, cho rằng, mặc dù tỷ suất lợi nhuận tốt, nhưng chi phí đầu tư sản xuất lớn, trong khi nhu cầu thị trường chưa thực sự cao, chủ yếu dành cho trẻ em và giới trẻ dưới 25 tuổi. Do đó, đây chính là một trong những lý do khiến các nhà đầu tư trong nước ngần ngại đầu tư ở phân khúc này.
Cuộc đua của khối ngoại
Dù được đánh giá là sản phẩm không phổ biến ở Việt Nam, nhưng thị trường Việt Nam vẫn được các nhãn hiệu hàng đầu thế giới trong ngành phô mai như Fonterra Co-operative, Lactalis, Bel... chú trọng đặc biệt.
Cuối năm 2009, cùng với sự hợp tác với đối tác Việt Nam, Tập đoàn Lactalis (Pháp), đơn vị đứng thứ 2 thế giới về ngành công nghiệp sữa và đứng đầu châu Âu về sữa và phô mai với khoảng 119 nhà máy trên toàn thế giới đã chính thức chỉ định Công ty TNHH TM Hoàng Lan (Hoang Lan Group) tại TP.HCM làm nhà phân phối bơ, sữa, phô mai tại Việt Nam sau gần 10 năm thâm nhập thị trường này.
Với khả năng phân phối khoảng 500 - 600 tấn phô mai mang nhãn hiệu President mỗi năm tại thị trường Việt Nam, Hoang Lan Group đã góp phần không nhỏ trong việc đưa Lactalis vào vị trí nhà cung cấp phô mai hàng đầu tại Việt Nam giai đoạn này, dù rằng, phô mai "Con bò cười" của Bel đã có mặt tại Việt Nam trước đó vài chục năm.
Thế nhưng, những dữ liệu thống kê từ Datamoniter lại đem đến cho giới phân tích một góc nhìn khác khi cho rằng, Fonterra Co-operative mới là "người dẫn đầu" trong thị trường phô mai ở Việt Nam năm 2009, với thị phần đạt khoảng 51,1% dành cho các loại phô mai tự nhiên.
Ngoài cuộc đua của khối ngoại, Vinamilk cũng được xem là đại diện cho các doanh nghiệp (DN) khối nội lấn sân vào lĩnh vực này. Tuy nhiên, theo báo cáo tài chính của Vinamilk năm 2012, phô mai chỉ là sản phẩm được định vị ngang kem và chưa được xem là một trong những sản phẩm chiến lược trong tầm nhìn trung hạn.
Tại Việt Nam, Bel có 4 thương hiệu trong số 12 thương hiệu đang chinh phục thị trường thế giới. Với 27 nhà máy và sản phẩm được bán trên 120 thị trường trên thế giới. Châu Á, châu Phi, Trung Đông là những thị trường Bel đẩy mạnh vào năm 2013. Theo đó, ngoài 5 thị trường trọng điểm tại châu Á gồm: Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Nhật và Hàn Quốc trước đây, thì Việt Nam đang được đánh giá rất cao, xét về mặt doanh số. Châu Á - Thái Bình Dương đang là thị trường đem lại doanh số đứng thứ 2 cho Bel, sau châu Âu.
Nhận định về sự xuất hiện của DN khối nội đối với phân khúc phô mai, ông Hồ Tiến Sỹ, Giám đốc Thương hiệu cao cấp Công ty Lantabrand, cho rằng, mặc dù tỷ suất lợi nhuận tốt, nhưng chi phí đầu tư sản xuất lớn, trong khi nhu cầu thị trường chưa thực sự cao, chủ yếu dành cho trẻ em và giới trẻ dưới 25 tuổi. Do đó, đây chính là một trong những lý do khiến các nhà đầu tư trong nước ngần ngại đầu tư ở phân khúc này.
Bel bứt phá
Hơn 3 năm sau giai đoạn năm 2009, thị trường Việt Nam đã có sự chuyển biến ngoạn mục đối với phân khúc phô mai khi Bel đột phá trở thành đơn vị dẫn đầu với tổng thị phần đạt gần 70 % với 4 nhãn hàng chính là Con bò cười, Kiri, Babybel và Leerdammer. Trong đó, Con bò cười đã chính thức khẳng định được vị trí đầu bảng trong những thương hiệu phô mai đầu tiên đến Việt Nam.
Lợi thế của Bel trên con đường trở thành "nhà dẫn đầu" trong phân khúc phô mai chính là thói quen ngại thay đổi của người tiêu dùng. Do đó, thói quen cứ nói đến phô mai là nói đến "con bò cười" bao năm nay tiếp tục được hưởng lợi thế là người đi đầu tiên cho đến thời điểm này.
Cộng với đó là việc Bel đưa nhà máy tại Khu công nghiệp Mỹ Phước 3 với tổng vốn đầu tư gần 5 triệu Euro vào hoạt động vào cuối năm 2011, nhằm đáp ứng nhu cầu về phô mai của thị trường Việt Nam và các nước khác trong khu vực Đông Nam Á. Điều này đã giúp Bel đột phá "vượt mặt" Fonterra Co-operative, Lactalis về sản phẩm và giá bán.
Vì cùng với việc đưa nhà máy đi vào sản xuất, Việt Nam cũng là thị trường đầu tiên được Bel giới thiệu dòng sản phẩm que sữa Goodi (làm từ sữa tươi dưới dạng que) với giá thành thấp để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của phân khúc khách hàng thu nhập trung bình thấp.
Chia sẻ trong lễ khánh thành nhà máy mới của Bel tại Việt Nam, ông Antoine Fievet, CEO của Tập đoàn BEL, nhấn mạnh, Việt Nam sẽ là nước thứ 2 được BEL chọn làm điểm đến tiếp cận với các thị trường trong khu vực, đồng thời cũng là nơi đầu tiên được chọn để xây dựng nhà máy tại châu Á với kỳ vọng, đây sẽ trở thành bàn đạp của Tập đoàn tại khu vực này.
Những chia sẻ trên báo cáo thường niên của Bel Group năm 2012, cho thấy, họ kỳ vọng doanh thu của phô mai sẽ đạt tốc độ tăng trưởng kép (CAGR) là 11% về khối lượng trong 2013 - 2017.
Dự báo mức tăng trưởng doanh số bán hàng của phô mai có thể sẽ được cải thiện dựa vào sự phát của các chuỗi cửa hàng dịch vụ thực phẩm ngoại, cũng như chuỗi thức ăn nhanh và nhà hàng ẩm thực phương Tây tại Việt Nam.

Cùng tìm hiểu về First Solar: Gánh nặng ở lại

Hiện Hepza đang xúc tiến tháo gỡ khó khăn này nhưng không cho biết rõ thời gian cụ thể. Mặc dù vậy, Hepza vẫn định hướng nhà đầu tư, doanh nghiệp mua lại nhà xưởng của First Solar phải hoạt động trong lĩnh vực sản xuất kỹ thuật cao hoặc sản phẩm công nghệ cao.
Sau 15 tháng rao bán, đến nay nhà xưởng của dự án sản xuất pin năng lượng Mặt trời có vốn đầu tư đăng ký 1,2 tỷ USD tại Khu công nghiệp Đông Nam, huyện Củ Chi, TP.HCM của Tập đoàn First Solar (Mỹ) vẫn chưa bán được do vướng các thủ tục pháp lý.
Đại diện Ban quản lý Khu chế xuất - Khu công nghiệp TP.HCM (Hepza), cho biết, nhà xưởng của dự án này trong thời gian qua cũng được một số nhà đầu tư nước ngoài muốn mua lại, nhưng hiện chưa thể chuyển nhượng cho đối tác khác vì vướng các thủ tục pháp lý liên quan đến đất đai.
Hiện Hepza đang xúc tiến tháo gỡ khó khăn này nhưng không cho biết rõ thời gian cụ thể. Mặc dù vậy, Hepza vẫn định hướng nhà đầu tư, doanh nghiệp mua lại nhà xưởng của First Solar phải hoạt động trong lĩnh vực sản xuất kỹ thuật cao hoặc sản phẩm công nghệ cao.
Giữa năm ngoái, First Solar đã chỉ định Công ty Tư vấn bất động sản Cushman & Wakefield Việt Nam là đơn vị chịu trách nhiệm bán toàn bộ hoặc từng phần nhà xưởng có diện tích 113.000m2 tại Khu công nghiệp Đông Nam, huyện Củ Chi, TP.HCM.
First Solar đã hoàn thành việc xây dựng nhà xưởng sản xuất môđun năng lượng Mặt trời và muốn bán lại công trình do tình trạng thừa cung sản phẩm này trên thị trường thế giới.
Sau đó, phía Cushman & Wakefield Việt Nam cho biết đã có một số nhà đầu tư tiềm năng tìm hiểu mua lại toàn bộ hoặc từng phần của nhà xưởng này. Tuy nhiên, đến nay dự án này vẫn chưa bán được.
Theo quy trình thông thường, với dự án này, nhà đầu tư có hai phương án để dừng thực hiện dự án. Nếu chuyển nhượng vốn cho đối tác khác thì pháp nhân và ngành nghề của dự án First Solar vẫn còn hiệu lực, chỉ thay đổi tên đối tác thực hiện.
Tuy nhiên, giới phân tích cho rằng dự án này được đánh giá là công nghệ cao với quy mô vốn lớn nên khó có nhà đầu tư nào phù hợp để thay thế và giữ nguyên toàn bộ dự án như ban đầu.
Nhưng nếu chọn phương án bán nhà xưởng và thanh lý dự án thì nhà đầu tư phải làm các thủ tục cơ bản đó là phải có quyền sở hữu nhà xưởng như sổ hồng hoặc sổ đỏ. Phương án này có thể đang là lựa chọn của nhà đầu tư. Tuy nhiên thủ tục vẫn còn khó khăn như đại diện của Hepza đã nói ở trên.
Tháng 3/2011, First Solar khởi công xây dựng nhà máy này với tổng vốn đầu tư cam kết của hai giai đoạn dự kiến là 1,2 tỷ USD. Đến tháng 10/2011, First Solar cho biết sẽ tạm dừng đầu tư dự án do mất cân bằng cung cầu về pin năng lượng mặt trời trên thị trường toàn cầu.
Đến tháng 7/2012, tập đoàn này tuyên bố rao bán toàn bộ nhà xưởng đã xây dựng xong với diện tích 113.000m2. Thời điểm đó First Solar đã hoàn thành việc xây dựng nhà xưởng sản xuất môđun pin năng lượng Mặt trời.

Chia sẻ cùng bạn về sân bay và du lịch: Luẩn quẩn chờ nhau

Nhưng thực tế, các sân bay quốc tế này vẫn luẩn quẩn với bài toán lượng khách du lịch đến địa phương thấp vì chưa có đường bay quốc tế. Và ngược lại các hãng hàng không trong và ngoài nước đều thận trọng chưa dám mở đường bay quốc tế vì sợ lỗ. Chỉ riêng sân bay Cam Ranh là duy trì đường bay đến Nga.
Sân bay Đà Nẵng
Đà Nẵng "bạo tay"
Bà Phạm Thị Dung, một Việt kiều sống tại bang Ohio (Mỹ) vừa trở về thăm quê với sự lựa chọn hai chuyến bay thẳng kết nối trực tiếp giữa Washington - Seoul và Seoul - Đà Nẵng. Đối với một người đã 77 tuổi, có thể về tận quê với chặng đường tối giản, ít phải chờ đợi mệt mỏi vì nối chuyến như vậy là điều tuyệt vời.
Trước đây những người đi Bắc Mỹ từ miền Trung đều phải chuyển tiếp bằng các chuyến bay nội địa đến hai đầu Hà Nội hoặc TP.HCM. Nay, tình hình đã thay đổi khi trong năm 2013, sân bay quốc tế Đà Nẵng đã liên tục là điểm đến của các đường bay quốc tế Hồng Kông, Siem Reap (Campuchia), Incheon (Hàn Quốc) do các hãng hàng không trong và ngoài nước khai thác.
Hiện tại, Đà Nẵng có 23 đường bay quốc tế đến các nước trong khu vực, với 3.400 chuyến bay xuất nhập cảnh trong 9 tháng đầu năm 2013. Đến thời điểm này, Đà Nẵng đón 1,54 triệu lượt khách du lịch, trong đó có 169 ngàn lượt người đến bằng đường hàng không, tăng 59% so với cùng kỳ năm 2012.
Đó là những con số rất thú vị nếu biết rằng cách đây 5 năm , người ta phải chứng kiến những đường bay mở ra, duy trì 1-2 năm, rồi lại khép lại vì lỗ.
Đến mức đã có những thời điểm quá bức xúc, các doanh nghiệp lữ hành tại Đà nẵng phải tự mở lối, gom khách và thuê bao máy bay đưa khách đi về giữa Đà Nẵng với Hồng Kông, Đài Loan, Nhật Bản và Hàn Quốc để hỗ trợ cho các hãng hàng không làm quen với điểm đến mới, và lữ hành quốc tế đến khảo sát thị trường du lịch miền Trung.
Cuối tháng 3/2013, Dragonair (Công ty trực thuộc Cathay Pacific) đã khai trương đường bay Hồng Kông - Đà Nẵng. Giám đốc Điều hành Dragonair, ông Patrick Yeung, đánh giá:
"Đà Nẵng là điểm đến thứ 2 của Dragonair tại Việt Nam. Trong quá trình khảo sát, tôi rất tin tưởng khi nhận thấy tốc độ đầu tư hạ tầng ở Đà Nẵng tỏ ra vượt trội nhất khu vực miền Trung, và với tiềm năng thiên nhiên và di sản văn hóa trong khu vực gồm Huế, Hội An, các hang động nổi tiếng Quảng Bình, nơi đây sẽ là thị trường sôi động. Tôi tin là đường bay Đà Nẵng - Hồng Kông nhất định duy trì được".
Sau Dragonair, Vietnam Airline đã mở cùng lúc 2 đường bay trực tiếp Đà Nẵng - Seoul, Đà Nẵng - Siêm Riệp vào đầu tháng 8 vừa qua. Cảng Hàng không quốc tế Đà Nẵng kỳ vọng sẽ đón khoảng 3 triệu lượt khách trong năm 2013.
Lãnh đạo thành phố Đà Nẵng đang ráo riết xúc tiến việc mở đường bay trực tiếp nối với các thịtrường Thái Lan, Nhật Bản và Nga, với sự nỗ lực mở thị trường mới của các công ty lữ hành.
Chờ khách và khách chờ
Theo Cục Hàng không dân dụng, về mặt kỹ thuật, từ sân bay Phú Bài (Huế) có thể nối đường bay sang Lào và vùng Đông Bắc Á; sân bay Cam Ranh, Liên Khương, Phú Quốc, Cần Thơ nối với toàn bộ Asean và Đông Bắc Á. Trong mấy năm qua, các sân bay này đã được đầu tư nâng cấp hoàn chỉnh, đủ sức đón từ 3 - 4 triệu lượt khách/năm.
Nhưng thực tế, các sân bay quốc tế này vẫn luẩn quẩn với bài toán lượng khách du lịch đến địa phương thấp vì chưa có đường bay quốc tế. Và ngược lại các hãng hàng không trong và ngoài nước đều thận trọng chưa dám mở đường bay quốc tế vì sợ lỗ. Chỉ riêng sân bay Cam Ranh là duy trì đường bay đến Nga.
Thực tế là con số du khách, và việc đi lại của khách công vụ đến các điểm nói trên không đủ thuyết phục người lạc quan nhất, bởi khó khăn hôm nay của các cảng hàng không quốc tế nói trên tương tự như chuyện xảy ra với Đà Nẵng cách đây 10 năm.
Thực trạng đó là do hạ tầng du lịch các địa phương chưa hoàn chỉnh, chưa có lượng khách lớn, các nhà đầu tư còn ở giai đoạn thăm dò.
Đại diện của một hãng hàng không Nga chuyên đưa khách đến sân bay Cam Ranh, cho biết, đã khảo sát thị trường Phú Quốc theo yêu cầu của nhiều công ty lữ hành Nga, nhưng số lượng khách sạn ở đây còn quá ít, không đáp ứng yêu cầu nếu mở đường bay.
Ở các vùng này, doanh nghiệp du lịch lữ hành chưa "xắn tay" cùng với chính quyền xúc tiến việc mở đường bay bằng hành động tìm khách cho hàng không như doanh nghiệp Đà Nẵng.
Mới đây, tại cuộc họp với đại diện các sân bay quốc tế ở các khu vực này, Cục Hàng không dân dụng đã đưa ra rất nhiều điều kiện ưu đãi thuyết phục mở đường bay quốc tế đến khu vực địa phương.
Cục khẳng định đang tạo nhiều điều kiện khuyến khích các hãng hàng không mở đường bay quốc tế đến các cảng này, như: Không hạn chế về vận tải cung ứng đối với thương quyền 3, 4 (chở hành khách, hàng hóa, thư tín từ Việt Nam đi các nước hoặc ngược lại); cho phép khai thác thương quyền 5 (chở hành khách từ nước thứ hai đến nước thứ ba); có thể áp dụng thương quyền 7 (vận chuyển giữa hai nước hoàn toàn ở ngoài nước của nhà khai thác, ví dụ Hãng hàng không Trung Quốc được bay chặng TP.HCM - Bangkok).
Như vậy, cánh cửa hàng không quốc tế đã hé mở, một cơ hội lớn không chỉ đến với các doanh nghiệp lữ hành, nó mở toang cửa cho các ngành xuất nhập khẩu nông sản. Các địa phương nên tham chiếu đường đi của Đà Nẵng, không thể cứ mãi ngồi yên chờ các hãng hàng không quốc tế tìm đến.

Khám phá vấn đề: Xe sang "lên ngôi"

Tăng trưởng chung là thế nhưng có thể khẳng định, đến thời điểm này, "sân chơi" cho ô tô hạng sang vẫn đang chiếm hữu bởi bộ ba thương hiệu đến từ Đức là Mercedes-Benz, BMW và Audi. Trong đó, Mercedes-Benz chiếm hơn 50% thị phần. Năm 2012, thị trường xe sang tiêu thụ gần 4.000 chiếc thì Mercedes-Benz đã chiếm một nửa. Vị trí kế tiếp thuộc về hai thương hiệu Đức là BMW và Audi. Các thương hiệu xe sang khác như Porsche, Land Rover tăng trưởng mạnh nhưng chiếm thị phần không đáng kể.
Danh sách còn dài
Bất chấp kinh tế khó khăn và thị trường nhỏ, từ đầu năm đến nay, các hãng xe sang vẫn liên tiếp "đổ bộ” vào Việt Nam. Mở đầu cho cuộc chinh phục người tiêu dùng Việt Nam là tháng 4 vừa qua, thông qua Công ty Ô tô Trường Hải (Thaco), Peugeot của Pháp đã chính thức vào Việt Nam sau 38 năm gián đoạn.
> Top 5 xe sang mới trong 2013
> Xe sang giá "mềm"
> Xe sang giá rẻ
> Cuộc đua giữa các thương hiệu xe sang lại nóng lên
> Xe sang đáng... ngắm
> Xe sang đua nhau ra Bắc?
Ngay sau đó hai tháng, hãng xe siêu sang Rolls-Royce cũng đã đặt chân vào thị trường nhỏ bé này thông qua Công ty CP Regal. Và hiện tại, cả hai nhà phân phối của hai hãng xe sang này là Thaco và Regal đều đang gấp rút để ra mắt hệ thống phân phối.
Trong quý IV này, phòng trưng bày Rolls-Royce sẽ khai trương tại Hà Nội. Trong khi đó, Thaco đang cùng lúc triển khai 5 showroom ở TP.HCM, Hà Nội, Hải Phòng, Vinh, dự kiến mở cửa cuối năm nay.
Trong khi đó. đại diện Nissan cho biết, Hãng đã lên kế hoạch cho việc chinh phục thị trường Việt Nam bằng thương hiệu xe Infiniti. Những mẫu xe mới của Infiniti sẽ xuất hiện tại Vietnam Motor Show diễn ra vào cuối tháng 10.
Cùng lúc, Toyota Việt Nam công bố đưa Lexus, một thương hiệu xe rất được ưa chuộng tại Việt Nam vào kinh doanh. Ông Yoshihisa Maruta, Tổng giám đốc Công ty Toyota Việt Nam - đơn vị sẽ nhập khẩu xe Lexus vào thị trường Việt Nam, cho biết, trong đợt triển lãm này, Lexus sẽ có gian hàng riêng để giới thiệu các mẫu xe mới và thăm dò ý kiến người tiêu dùng.
Các thương hiệu xe sang khác như Bentley, Lamborghini cũng đang chuẩn bị để vào Việt Nam. "Thu nhập bình quân đầu người thấp hơn Thái Lan, Indonesia nhưng ở Việt Nam vẫn có người rất nhiều tiền, sẵn sàng mua các loại xe sang", ông Yoshihisa Maruta phân tích.
Phân chia ngôi thứ
Thị trường xe sang ở Việt Nam mỗi năm tiêu thụ khoảng 3.000 - 5.000 xe và số lượng này ngày càng tăng. Trong ba thương hiệu xe sang hiện có thì 8 tháng đầu năm nay, lượng xe bán ra của Meredes-Benz Việt Nam tăng 70% so với cùng kỳ năm ngoái. Hai hãng xe BMW và Audi cũng tăng trưởng hai con số kể từ đầu năm. Ngay như Porsche, một thương hiệu chuyên về xe thể thao với giá từ vài tỷ đến cả chục tỷ đồng cũng đạt hiệu quả kinh doanh khá tốt.
Từ đầu năm đến nay Công ty TNHH Xe hơi Thể thao Uy Tín - nhà nhập khẩu và phân phối Porsche tại Việt Nam đã bán ra được 90 chiếc. Công ty này kỳ vọng sẽ đạt được hơn 100 xe trong năm nay. Ông Andreas Klingler, Tổng giám đốc Porsche Việt Nam, cho rằng, thị trường Việt Nam tuy nhỏ nhưng rất tiềm năng. "Hiện nay, dung lượng thị trường chỉ đạt 100.000 xe nhưng sẽ đạt đến 1-2 triệu chiếc trong tương lai gần. Khi đó, lượng xe sang cũng sẽ tăng gấp nhiều lần", ông Andreas Klingler dự báo.
Tăng trưởng chung là thế nhưng có thể khẳng định, đến thời điểm này, "sân chơi" cho ô tô hạng sang vẫn đang chiếm hữu bởi bộ ba thương hiệu đến từ Đức là Mercedes-Benz, BMW và Audi. Trong đó, Mercedes-Benz chiếm hơn 50% thị phần. Năm 2012, thị trường xe sang tiêu thụ gần 4.000 chiếc thì Mercedes-Benz đã chiếm một nửa. Vị trí kế tiếp thuộc về hai thương hiệu Đức là BMW và Audi. Các thương hiệu xe sang khác như Porsche, Land Rover tăng trưởng mạnh nhưng chiếm thị phần không đáng kể.
Cuộc cạnh tranh về xe sang sắp tới sẽ quyết liệt hơn, bởi không chỉ có "bộ ba" của Đức là Mercedes-Benz, BMW, Audi mà thị trường sẽ có thêm Lexus, Infinity, Land Rover, Porsche, Peugeot, cả những thương hiệu siêu sang như Rolls-Royce, và dự kiến không thể thiếu Bentley, Lamborghini.
Do phân khúc xe sang khá kén khách nên các hãng ngay từ đầu đã định hình khách hàng.
Nếu như Mercedes-Benz hướng đến phục vụ một cách tốt nhất cho hành khách ngồi ghế sau xe với thiết kế mượt mà, BMW chú trọng đến tính năng lái phục vụ cho người ngồi sau vô lăng, Audi dung hòa giữa hai yếu tố trên thì Porsche hướng đến khách hàng thích tốc độ và sự trải nghiệm...
Tuy vậy, theo ông Trần Tấn Trung, Tổng giám đốc Công ty CP Liên Á Quốc tế, nhà phân phối xe Audi tại Việt Nam, cuộc cạnh tranh sắp tới sẽ quyết liệt hơn, bởi không chỉ có "bộ ba" của Đức mà thị trường xe sang sẽ có thêm Lexus, Infinity, Land Rover, Porsche, Peugeot và cả những thương hiệu siêu sang như Rolls-Royce và dự kiến không thể thiếu Bentley, Lamborghini. Và một khi đã có nhiều thương hiệu vào thì thị trường sẽ có nhiều sản phẩm với nhiều dòng giá khác nhau, việc cạnh tranh sẽ gây gắt hơn.
Trước tình hình này, doanh nghiệp phải phát triển đại lý, dịch vụ, có chính sách marketing mới, sản phẩm mới... phù hợp với tình hình thực tế. "Đời sống càng cao thì người tiêu dùng đòi hỏi những sản phẩm càng cao cấp. Và kinh tế Việt Nam còn tăng trưởng thì chắc chắn thị trường xe sang sẽ còn phát triển", ông Trung khẳng định.
Kinh tế khó khăn nhưng xe sang vẫn tiêu thụ khá tốt tại Việt Nam

Vạn nhãn ruột, hai nhãn vỏ trong lĩnh vực thị trường bao bì

Dù chưa đầu tư nhà máy tại Việt Nam, nhưng vào tháng 5/2013, Tetra Pak đã hoàn tất việc đầu tư một nhà máy mới ở Ấn Độ với tổng vốn lên đến 156 triệu USD. Mục tiêu của khoản đầu tư này, theo đại diện của Tetra Pak là để hỗ trợ mức tăng trưởng về nhu cầu sử dụng bao bì ngày một gia tăng ở khu vực Đông Nam Á và Trung Đông.
Sự gia tăng này là tác nhân thúc đẩy nhu cầu về bao bì, trong khi về mặt thị trường, bao bì cũng là yếu tố quyết định đến sự cạnh tranh. Về vấn đề này, ông Kamimura Yosuke, Trưởng phòng Marketing Công ty Kirin, cho rằng, khi khách hàng cân nhắc mua một sản phẩm, yếu tố quan trọng nhất là cách họ cảm nhận về sản phẩm thông qua bao bì.
Kỹ thuật thiết kế và in ấn sẽ giúp cải thiện hình ảnh sản phẩm cũng như ảnh hưởng đến sự hiện diện của sản phẩm khi trưng bày tại các cửa hàng bán lẻ.
PET trong tay Ngọc Nghĩa
Trong khi bao bì giấy, carton nằm trong tay các công ty Đài Loan và Hàn Quốc thì bao bì nhựa, với thị phần lớn nhất là chai PET, lại do hai công ty nội địa là Ngọc Nghĩa và Bảo Vân thâu tóm.
Theo EUI, tăng trưởng tiêu dùng thực phẩm tại thị trường Việt Nam đạt 6,4%/năm đến năm 2007, là 8,4%. EUI cũng nêu rõ, doanh số của ngành nước uống đóng chai nói chung (soft drink) trong năm 2013 tăng trưởng ở mức 13,4% và dự đoán 2017 là 13,7%.
Mặt khác, năm 2009, tổ chức này cũng từng đưa ra con số khá hấp dẫn cho các nhà đầu tư xem xét: ở Việt Nam, chi tiêu cho thực phẩm và đồ uống không cồn chiếm 24,3 tỷ USD, tương ứng 38% trong tổng chi tiêu của người tiêu dùng. Con số này ở Canada là 9%, ở Mỹ là 7% và EU là 13%.
Chính sự tăng trưởng này đã tạo chỗ đứng cho các nhà sản xuất và cung ứng bao bì thực phẩm. Bao bì dành cho ngành thực phẩm và đồ uống có khá nhiều chất liệu, như thủy tinh, nhựa, kim loại, giấy. Song, bao bì nhựa vẫn đang có chỗ đứng nhất định khi ngành đồ uống vẫn tăng trưởng đều đặn.
Nhu cầu các loại bao bì thực phẩm trên thế giới từ nay đến 2013 được dự báo sẽ tăng 3,8% mỗi năm, đạt mức 124 tỷ USD vào năm 2013.
Theo Hiệp hội Bao bì Việt Nam, 66% giá trị xuất khẩu của ngành nhựa xuất phát từ bao bì. Theo số liệu nhập khẩu hạt nhựa từ Tổng cục Hải quan, năm 2012, đạt 6,2 tỷ USD, trong đó, mảng bao bì nhựa chiếm 39%, tức chiếm khoảng 2,4 tỷ USD.
Cũng theo Hiệp hội Nhựa Việt Nam, 5 năm gần đây, ngành bao bì nhựa phát triển khá nhanh, với tốc độ tăng trưởng hằng năm là trên 25%.
Ở phân khúc này, hiện các nhà sản xuất trong nước đang chiếm ưu thế trên thị trường. Cụ thể, với bao bì nhựa tổng hợp, quy mô thị trường hiện đạt 410 triệu USD, trong đó, chai PET chiếm đến 282 triệu USD (phần còn lại là hộp nhựa PE, PP - chủ yếu dùng trong nông nghiệp, đóng gói gạo, đường, cà phê và hóa chất; thị trường này không nhỏ vì mỗi năm tiêu thụ khoảng 1,5 tỷ bao bì). Một thống kê khác của StoxPlus cũng cho thấy, chai PET và túi nhựa tái chế có mức tăng trưởng ước tính 20%/năm.
Trước năm 2000, các nhà sản xuất đồ uống, thực phẩm chủ yếu phải nhập khẩu chai PET và hộp nhựa. Tuy nhiên, sau đó, Công ty Ngọc Nghĩa và Công ty Bảo Vân (có trụ sở chính ở Bình Dương) đã trở thành nhà sản xuất và cung ứng chai PET lớn nhất với thị phần khoảng 80%.
Tuy nhiên, nếu xét về mặt doanh số và quy mô đầu tư, Ngọc Nghĩa có phần nhỉnh hơn. Theo đó, tổng doanh thu từ sản phẩm nhựa của Ngọc Nghĩa năm 2011 đạt 85 triệu USD, trong khi Bảo Vân chỉ đạt 40 triệu USD (năm 2012, doanh thu của Ngọc Nghĩa đạt 84,5 triệu USD).
Mặt khác, doanh thu xuất khẩu các loại bao bì nhựa thực phẩm mang về 104,5 triệu USD (tăng 29,8% so với năm 2011), chủ yếu đến từ Công ty Ngọc Nghĩa và Bảo Vân, riêng Ngọc Nghĩa đạt giá trị xuất khẩu 22,5 triệu USD trong năm vừa rồi.
Hiện Ngọc Nghĩa đang sở hữu hơn 1.000 khách hàng, chủ yếu trong ngành nước uống đóng chai và thực phẩm. Trong đó, hai thương hiệu lớn trong ngành nước uống có gas là PepsiCo và Coca-Cola đang trở thành khách hàng "chiến lược" của Công ty.
Ở Việt Nam, Coca-Cola sử dụng chai PET cho nước uống có gas, nước uống đóng chai... Trong khi trước đó, năm 2005, Ngọc Nghĩa cũng đã ký kết hợp đồng 10 năm với PepsiCo trong việc tích hợp một dây chuyền sản xuất chai PET tại nhà máy của PepsiCo ở Hóc Môn.
Ngoài ra, Ngọc Nghĩa cũng là cung ứng chai PET cho các sản phẩm nước trái cây, sữa... của nhà sản xuất sữa hàng đầu Việt Nam Vinamilk sau khi Ngọc Nghĩa niêm yết vào năm 2007. Ngoài ra, Lavie, Dầu ăn Tường An... cũng là đối tác lớn của công ty này.
Chỉ tính riêng Vinamilk, trong số 6 loại bao bì mà Công ty đang sử dụng thì bao bì giấy, thiếc và chai nhựa PET đang chiếm tỷ trọng lớn nhất, trong đó, năm 2012, đã tiêu thụ hơn 30,4 triệu chai PET, trên 22.000 tấn bao bì thiếc và khoảng 9,4 nghìn tấn bao bì giấy. Đó là chưa kể bao bì dạng ly nhựa và màng HIPS.
Chính mảng kinh doanh chai PET đã mang về doanh thu chủ yếu cho Ngọc Nghĩa, trong khi ngành thực phẩm (đầu tư từ giữa 2009) chưa mang về doanh thu đáng kể nếu không muốn nói là làm lợi nhuận sau thuế của Công ty giảm trong năm 2011.
Tetra Pak độc chiếm hộp sữa
Khi nhắc đến bao bì cao cấp cho ngành thực phẩm Việt Nam thì chỉ có cái tên Tetra Pak.
Trong khi mảng bao bì nhựa là "cuộc chơi" của các nhà cung ứng nội địa, thì bao bì giấy cho ngành thực phẩm dạng lỏng đang bị các nhà sản xuất và cung ứng nước ngoài thao túng, đặc biệt là bao bì cho ngành sữa. Liên quan đến vấn đề này, ông Hồ Tiến Sỹ, Giám đốc Thương hiệu cấp cao của Lantabrand, phân tích, hầu hết bao bì các loại sữa nước đều do doanh nghiệp nước ngoài cung cấp vì có yêu cầu kỹ thuật rất cao để đảm bảo giữ được sản phẩm dễ hư hỏng như sữa.
Hai công ty bao bì sữa lớn nhất trên thế giới là Tetra Pak (Thụy Sĩ) và Combibloc (Đức) đều đã có mặt ở Việt Nam và cung cấp hầu như gần hết các loại bao bì cho các công ty sữa.
Trong khi một số loại bao bì sữa khác như sữa chua, sữa đặc, sữa bột thì các doanh nghiệp trong nước có thể cung cấp được với giá thành tốt hơn nhập khẩu.
Cũng theo chia sẻ của ông Sỹ, thường chi phí bao bì chiếm khoảng 10% - 20% giá thành sản phẩm, nên với quy mô thị trường khoảng 15.000 tỷ đồng sữa nước như hiện nay thì chi phí bao bì không nhỏ.
Đại diện Lantabrand nói thêm, bao bì sữa có cấu trúc phức tạp với 5 - 6 lớp, từ giấy, màng nhôm, màng poly,... để đảm bảo vi khuẩn, ánh sáng không xâm nhập vào làm hư hỏng sữa, giữ được chất lượng sữa ổn định trong từ 6 - 8 tháng.
Do công nghệ chế biến sữa phức tạp và hiện đại nên hầu hết máy móc đều do nhà sản xuất bao bì cung cấp và lắp đặt, sau đó họ bán bao bì cho các công ty sữa. Đây là điều mà hiện nay Tetra Pak đang làm.
Tại thị trường Việt Nam, Tetra Pak không chỉ cung ứng bao bì mà còn là đối tác lâu năm trong việc cung ứng thiết bị, dây chuyền đóng gói cho Vinamilk. Điều này có thể thấy qua nhà máy 110 triệu USD vừa khởi công gần đây của Vinamilk ở Bình Dương.
Ngoài ra, nhà cung ứng bao bì này cũng đang là nhà cung cấp bao bì cho hai doanh nghiệp khác trong ngành sữa là TH Milk và Dutch Lady tại thị trường Việt Nam.
Thông tin từ Tetra Pak cho thấy, hiện mỗi năm hãng này cung cấp hơn 150 tỷ bao bì giấy tiệt trùng cho 170 quốc gia. Tại thị trường Việt Nam, con số vỏ hộp mà Tetra Pak cung cấp cho hàng trăm nhãn hàng lên tới hàng tỷ mỗi năm.
Với sự hợp tác của Tetra Pak, Công ty Giấy và Bao bì Đồng Tiến đã xây dựng nhà máy tái chế hoàn thiện vỏ hộp sữa giấy đầu tiên tại tỉnh Bình Dương. Dây chuyền tái chế vỏ hộp sữa có công suất 50 tấn/ngày. Hiện Công ty đã có 21 trạm thu mua vỏ hộp sữa, thu mua khoảng 250.000kg/tháng.
Dù chưa đầu tư nhà máy tại Việt Nam, nhưng vào tháng 5/2013, Tetra Pak đã hoàn tất việc đầu tư một nhà máy mới ở Ấn Độ với tổng vốn lên đến 156 triệu USD. Mục tiêu của khoản đầu tư này, theo đại diện của Tetra Pak là để hỗ trợ mức tăng trưởng về nhu cầu sử dụng bao bì ngày một gia tăng ở khu vực Đông Nam Á và Trung Đông.
Mặt khác, tập đoàn này cũng đã đánh dấu sự hiện diện của mình với nhà máy ở Trung Quốc, một trong hai thị trường tiêu thụ sữa nước lớn nhất trên thế giới. Bên cạnh hai thị trường này, đại diện của Tetra Pak cho biết, tại châu Á - Thái Bình Dương, Tetra Pak đặc biệt quan tâm đến thị trường Việt Nam và Indonesia.
Theo chia sẻ của một chuyên gia trong ngành sữa, do đến sớm nên Tetra Pak có ưu thế hơn Combibloc tại thị trường Việt Nam. Hơn nữa, việc sử dụng bao bì của nhà cung ứng nào thường đi kèm với dây chuyền đóng gói của nhà cung ứng đó.
Song, do quy mô thị trường chưa đủ lớn nên hiện cả hai tập đoàn này đều chưa đầu tư nhà máy ở Việt Nam. Trong khi Tetra Pak có nhà máy ở Ấn Độ, Singapore, Trung Quốc..., thì Combibloc có nhà máy sản xuất đặt tại Thái Lan.
Đối với ngành bao bì thực phẩm dạng lỏng, do yêu cầu kỹ thuật nên các nhà cung ứng nội địa chỉ tham gia vào một công đoạn nào đó. Theo bà Nhan Húc Quân, Tổng giám đốc Công ty TNHH Bao bì giấy nhôm New Toyo Việt Nam, sở dĩ bao bì thực phẩm nói chung và bao bì dành cho ngành sữa nước đòi hỏi kỹ thuật khá cao, nên các doanh nghiệp trong nước khó chen chân vào.
Nếu tham gia vào thị trường, DN phải có tiềm lực và tuân thủ các quy tắc nhất định, song chỉ dừng lại ở một số sản phẩm nhất định. Cụ thể như trường hợp của New Toyo, công ty đang đưa ra thị trường ly giấy cách nhiệt (sử dụng cho mì gói). Đây là sản phẩm các DN nước ngoài đã sản xuất cách đây khá lâu nhưng tại thị trường Việt Nam, New Toyo là DN đi tiên phong. Theo bà Nhan Húc Quân, sản phẩm này chủ yếu cung cấp cho các DN sản xuất có sản phẩm "xuất ngoại".
Đại diện New Toyo cho rằng, do DN bao bì thực phẩm trong nước mất lợi thế sân nhà do có quy mô nhỏ, lẻ, hoạt động theo hình thức mua đi bán lại nên không có giá thành tốt.
Do đó, khi có đơn hàng đột ngột thì khó để đáp ứng. Nhận thấy được yếu tố rủi ro này nên các nhà sản xuất không thể mạo hiểm "bắt tay" với nhà cung ứng "nội".

Cùng tham khảo cách làm: Trường Thành đặt hy vọng vào nhà đầu tư nước ngoài

Bên cạnh tái cấu trúc tài chính, Gỗ Trường Thành cũng bắt đầu chú trọng vào thị trường nội địa và giải quyết hàng tồn kho. “Với thị trường nội địa, Trường Thành sẽ tập trung vào các sản phẩm chính đang có sức tiêu thụ tốt là đồ trang trí nội thất, cửa và lớp ván sàn”, bà Ngô Thị Hồng Thu, Phó Tổng Giám đốc Gỗ Trường Thành, cho biết.
Làm ăn căn cơ, có định hướng chiến lược rõ ràng nhưng ông chủ của Gỗ Trường Thành vẫn vướng vào nợ nần chồng chất đến mức thê thảm. Doanh nghiệp được ông Thành gầy dựng trong gần 20 năm là Công ty Cổ phần Tập đoàn Kỹ nghệ Gỗ Trường Thành (TTF) bao gồm công ty mẹ và 14 công ty con, hoạt động chính là chế biến gỗ và trồng rừng nguyên liệu.
Ông Võ Trường Thành
Được thành lập từ đầu những năm 1990, đến thời điểm năm 2007, Công ty đã vươn lên trở thành một trong những doanh nghiệp đầu ngành về doanh thu.
Khi đó, nhận thấy thị trường gỗ trong nước vẫn phải nhập khẩu đến 80% nguyên liệu trong khi chi phí nguyên liệu đã chiếm đến 70% giá thành, Gỗ Trường Thành nghĩ đến cách thuê đất trồng rừng để có thể tự chủ về nguyên liệu mà lại giảm được chi phí sản xuất, tăng biên lợi nhuận.
Nghĩ là làm, năm 2008, ông Thành tìm khách hàng mua gỗ nguyên liệu rồi mới bắt đầu thuê đất trồng rừng. Công ty đã huy động toàn bộ nguồn vốn chủ sở hữu, khá dồi dào sau đợt phát hành cổ phiếu ra công chúng lần đầu, để xây nhà máy và thuê đất trồng rừng trong 49 năm. Dự kiến, gỗ nguyên liệu sẽ có thể bắt đầu khai thác được sau 5 năm kể từ thời điểm đó.
Tuy nhiên cũng lúc này, giá gỗ nguyên liệu chất lượng cao (gỗ teak) nhập khẩu đã tăng liên tục trong 2 năm. Nhận thấy chi phí ngày càng cao, giá bán khó tăng ngay mà đơn hàng thì vẫn còn kéo dài đến cuối năm kế tiếp, ông Thành mới quyết định vay vốn ngắn hạn để mua lượng gỗ teak đủ dùng cho sản xuất trong 12 tháng.
Lý giải cho quyết định này, đại diện Gỗ Trường Thành cho biết do đơn hàng đều đến từ các đối tác lâu năm có thể tin tưởng được và với tình hình kinh doanh ổn định như lúc đó thì Công ty tự tin hoàn toàn có thể trả cả gốc lẫn lãi mà vẫn có lời.
Nhưng cuối năm 2008 đầu 2009, kinh tế bắt đầu khó khăn và nhu cầu tiêu thụ sản phẩm gỗ nội thất trên thế giới cũng giảm. Vì vậy, các bạn hàng lâu năm của Gỗ Trường Thành cũng chuyển sang mua sản phẩm gỗ giá rẻ và không nhập sản phẩm cao cấp nữa, mặc dù Công ty đã sản xuất đầy đủ theo đơn hàng của họ từ trước.
Bán không được, kiện bạn hàng cũng không xong, ông Thành đành đem thành phẩm về cất trong kho cùng với đống gỗ nguyên liệu cao cấp mua từ trước.
Chia sẻ về sai lầm này, đại diện Công ty cho biết ngoài nguyên nhân do đối tác không tiếp tục nhập hàng dù đã đặt, việc doanh nghiệp chưa thực hiện được công tác dự báo thị trường cũng đã góp phần không nhỏ vào thiệt hại chung.
Tuy vẫn cố gắng chào hàng sản phẩm gỗ cao cấp, nhưng Gỗ Trường Thành lại tiếp tục phải vay thêm vốn để mua gỗ giá rẻ về sản xuất cho những đơn hàng mới. Vậy là nợ chồng nợ, lãi vay ngày càng cao trong khi đơn hàng lại giảm. Năm 2011, Công ty trả 230 tỉ đồng lãi vay, gấp 23 lần lợi nhuận kinh doanh có được.
Gỗ Teak
Lượng tồn kho lúc này cũng tăng cao đến mức Gỗ Trường Thành phải bán bớt gỗ teak đã nhập dự trữ trước đó, chấp nhận lỗ 20% để giải quyết nguồn vốn ngắn hạn cho sản xuất và giải tỏa bớt áp lực chi phí lãi vay. Công ty cũng bắt đầu cắt giảm nhân sự, hợp nhất các đơn vị thành viên để cắt bớt phần nào chi phí quản lý.
Giai đoạn 2010-2011, Gỗ Trường Thành chuyển sang dùng gỗ rừng trồng trong nước như cao su, tràm, keo khá nhiều nên tỉ lệ nguyên liệu phải nhập còn khoảng 20-30% so với các năm trước.
Tuy vậy, năm 2012, Công ty tiếp tục đối mặt khó khăn vì thị trường vẫn chưa khởi sắc, tồn kho tăng cao mà rừng tự trồng thì chưa khai thác được. Thậm chí, họ đã phải phát hành thêm cổ phiếu dưới mệnh giá để huy động vốn nhưng cũng chỉ thu được 98 tỉ đồng hồi tháng 3 năm nay.
Theo kế hoạch, Gỗ Trường Thành sẽ tiếp tục tăng vốn với đợt phát hành lần thứ hai, dự kiến sẽ được thực hiện vào tháng 11, dự kiến sẽ thu về thêm 72 tỉ đồng. Trong đó, một lượng lớn sẽ phát hành cho cổ đông hiện hữu, còn lại sẽ phát hành cho đối tác chiến lược nước ngoài.
Ông Thành hy vọng sẽ giúp Công ty tái cơ cấu tài chính, bổ sung vào vốn lưu động cải thiện dòng tiền. Đại diện Công ty cũng cho biết đang được một số nhà đầu tư thương thảo phát hành trái phiếu trị giá 150 tỉ đồng cho họ.
Dòng tiền dự kiến thu về từ hoạt động trồng rừng của Gỗ Trường Thành cũng là niềm hy vọng cho Công ty. Dự kiến, nguồn gỗ rừng trồng sẽ mang về cho Công ty khoảng 100 tỉ đồng/năm.
Bên cạnh tái cấu trúc tài chính, Gỗ Trường Thành cũng bắt đầu chú trọng vào thị trường nội địa và giải quyết hàng tồn kho. “Với thị trường nội địa, Trường Thành sẽ tập trung vào các sản phẩm chính đang có sức tiêu thụ tốt là đồ trang trí nội thất, cửa và lớp ván sàn”, bà Ngô Thị Hồng Thu, Phó Tổng Giám đốc Gỗ Trường Thành, cho biết.
Đến tháng 10, Công ty đã cân bằng thị trường trong nước ngang bằng với thị trường xuất khẩu, thay vì xuất khẩu chiếm 70-80% như trước đây.
Hiện đang nợ 13 ngân hàng với số tiền 1.174 tỉ đồng, nhưng Gỗ Trường Thành đã được 9 ngân hàng chủ nợ giảm bớt áp lực trong vòng 1 năm, do đó Công ty sẽ có thêm thời gian cân đối lại vốn cho hoạt động kinh doanh.
Ông Võ Trường Thành hy vọng với sự tham gia của nhà đầu tư nước ngoài, Công ty sẽ tận dụng được kênh bán hàng của họ để mở rộng thị trường.
“Ngoài ra, bất động sản của họ đang đầu tư tại nhiều quốc gia đang có nhu cầu đặt hàng trang trí nội thất. Đây là cơ hội để có đơn hàng lớn thường xuyên. Vì vậy, phát hành được cho nhà đầu tư chiến lược nước ngoài không chỉ để tái cấu trúc tài chính, thay đổi đòn bẩy nợ mà còn giảm nguy cơ cho Công ty trong tình cảnh hiện tại”, ông nói.