Hiển thị các bài đăng có nhãn Tư Vấn Việc Làm. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tư Vấn Việc Làm. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 8 tháng 12, 2016

Vì sao thủy sản đuối với VietGAP?

"Những người nuôi nhỏ cho rằng, nuôi tự nhiên bán cũng vậy mà nuôi theo tiêu chuẩn bán cũng thế nên không cần phải thực hiện. Chúng tôi đã nhiều lần tính đến chuyện liên kết những cơ sở nhỏ lẻ để triển khai VietGAP nhưng rất khó để thực hiện vì những cơ sở nhỏ thường xa nhau lại không có điều kiện để đầu tư”, ông Vàng cho biết thực tế triển khai VietGAP đối với những hộ nuôi cá tra tại Vĩnh Long.
Nguyên nhân là do các yếu tố đầu vào và quá trình sản xuất của nông dân, trang trại chưa được kiểm soát tốt. Năm 2011, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã ban hành VietGAP ( Vietnamese GoodAgricultural Practices - Thực hành sản xuất nông nghiệp tốt theo tiêu chuẩn) đối với ngành thủy sản, nhằm kiểm soát một cách hệ thống các mối nguy hại để đảm bảo an toàn thực phẩm, giảm thiểu dịch bệnh, ô nhiễm môi trường sinh thái, đảm bảo trách nhiệm xã hội và truy xuất nguồn gốc sản phẩm.
Việc xây dựng bộ tiêu chuẩn VietGAP cho thủy hải sản, áp dụng đúng theo quy chuẩn sẽ tạo được thương hiệu đối với nhà nhập khẩu và giảm chi phí sản xuất. Hiện tại, tiêu chuẩn VietGAP mới được triển khai cho tôm thẻ chân trắng, tôm sú, cá tra và áp dụng đối với ao nuôi. Sắp tới, tiêu chuẩn này sẽ xây dựng thành quy chuẩn cho các chủng loại thủy hải sản khác với nhiều hình thức nuôi trồng khác.
Tuy nhiên, cho đến thời điểm này, mới chỉ có 6 doanh nghiệp (DN) thủy sản lớn được cấp giấy chứng nhận VietGAP. Ông Trương Đình Hòe, Tổng Thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), cho biết, năm 2012, có 7 - 8 DN thủy sản xin chứng nhận VietGAP cho vùng nuôi cá tra xuất khẩu nhưng đến nay vẫn chưa DN nào có được chứng nhận này.
Lý do, theo ông Hòe, các tiêu chuẩn VietGAP quá cao. Có đến 4 nội dung mà người nuôi phải đáp ứng, đó là chất lượng và an toàn vệ sinh thực phẩm; quản lý sức khỏe động thực vật thủy sản; bảo vệ môi trường; và các khía cạnh kinh tế - xã hội. Để có được chứng nhận VietGAP, nông dân, trang trại, DN sẽ phải mất rất nhiều thời gian.
Ông Hồ Văn Vàng, Phó chủ tịch Hiệp hội Cá tra Việt Nam, cho rằng, việc các cơ sở nuôi phải thực hiện những tiêu chuẩn về vệ sinh thực phẩm (như có ao lắng, ao chứa, môi trường sạch, thuốc phòng chữa bệnh phải theo quy trình nghiêm ngặt để sản xuất ra sản phẩm sạch, quá trình nuôi phải ghi chép thành nhật ký và được chi cục thủy sản kiểm tra thường xuyên...) là rất khó khăn cho những hộ nhỏ lẻ.
"Những người nuôi nhỏ cho rằng, nuôi tự nhiên bán cũng vậy mà nuôi theo tiêu chuẩn bán cũng thế nên không cần phải thực hiện. Chúng tôi đã nhiều lần tính đến chuyện liên kết những cơ sở nhỏ lẻ để triển khai VietGAP nhưng rất khó để thực hiện vì những cơ sở nhỏ thường xa nhau lại không có điều kiện để đầu tư”, ông Vàng cho biết thực tế triển khai VietGAP đối với những hộ nuôi cá tra tại Vĩnh Long.
Đã khó trong việc thực hiện, những người nuôi trồng thủy sản còn lo ngại về đầu ra sản phẩm. Để sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, nông dân phải mua giống tốt giá đắt, nuôi trồng theo hướng dẫn của nhà khoa học, xin giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn... Những chi phí này sẽ khiến giá thành sản phẩm tăng.
Theo dự thảo về Nghị định Cá tra, bắt đầu từ năm 2015, các sản phẩm cá tra xuất khẩu bắt buộc phải áp dụng tiêu chuẩn VietGAP. Ông Hòe cho rằng, điều này cần phải xem lại. Bởi, VietGAP áp dụng cho hộ nuôi (trong quá trình nuôi), trong khi xuất khẩu là DN chế biến. Nếu áp dụng quy định này sẽ xảy ra hai vấn đề.
Thứ nhất là các DN chế biến buộc phải tiến hành nuôi để đạt được chứng nhận VietGAP, khi đó, người dân sẽ không nuôi và chi phí sẽ tăng cao. Thứ hai là nếu áp dụng VietGAP cho tất cả các hộ nuôi để xuất khẩu thì phải tính như thế nào cho phù hợp vì có đến hàng chục ngàn hộ nuôi.
Hơn nữa, hiện nay, VietGAP vẫn chưa được quốc tế công nhận tương đương với các tiêu chuẩn có uy tín khác như BAP, GlobalGAP, ASC... càng khiến DN không mặn mà với việc triển khai tiêu chuẩn này.
Theo ông Hòe, việc áp dụng VietGAP là động lực để phát triển ngành nuôi trồng thủy hải sản. Vì thế, quá trình áp dụng VietGAP cần đơn giản hơn theo hướng là quy chuẩn bắt buộc, là yêu cầu tối thiểu cho sản xuất thủy hải sản. Quan trọng hơn, phải có sự liên kết và cam kết giữa nhà tiêu thụ, người dân, nhà cung ứng đầu vào nhằm ưu tiên cho sản phẩm VietGap.

Tin vui cho nền nông nghiệp: TPP và cơ hội hợp tác nông nghiệp Việt - Nhật

Đây được xem là hình thức ngày càng thông dụng khi các công ty được thuê chính là những đơn vị hơn ai hết hiểu rõ tầm quan trọng của việc tư vấn về nhân sự, bao gồm từ khâu tuyển chọn nhân sự, trả lương, luân chuyển vị trí làm việc cho đến khâu đánh giá chất lượng công việc. Vì thế, khi sử dụng dịch vụ này từ các công ty tư vấn nhân sự, các doanh nghiệp - khách hàng thường cảm thấy yên tâm hơn.
Thế nên, việc Nhật Bản gia nhập đàm phán Hiệp định thương mại xuyên Thái Bình Dương (TPP) khiến nông nghiệp nước này đối mặt với sức ép lớn từ
cạnh tranh nội khối do đặc tính nhỏ lẻ, kém hiệu quả, chi phí cao. Việc gia nhập TPP sẽ khiến nền nông nghiệp Nhật trở thành một lĩnh vực bị tổn thương nhiều nhất.
Đến thời điểm này, chưa có dấu hiệu nào cho thấy Nhật sẵn sàng từ bỏ sự bảo thủ trong lĩnh vực này, đồng nghĩa với sẽ khó có chuyện nước này “buông xuôi” ngành nông nghiệp, đặc biệt là lúa gạo.
Nông dân Bạc Liêu tham quan cánh đồng mẫu của tỉnh
Ở một “thế giới khác”, Việt Nam lại gặp nhiều rắc rối khi “gạo nhiều, tiền chẳng bao nhiêu” do chất lượng lẫn thương hiệu gạo Việt còn đối diện với nhiều thách thức. Liệu hai câu chuyện tuy có vẻ “xa xôi”, nhưng có thể “hợp nhất” để đi đến một kết cục có hiệu quả nhất?
Nhật Bản: cần “đối tác thích hợp và tin cậy”
Trong các hiệp định thương mại tự do (FTA) trước đó, chính phủ Tokyo luôn loại trừ phần lớn các mặt hàng thuộc khu vực nông nghiệp ra khỏi lộ trình giảm thuế. Những nỗ lực cải tổ trong lòng nước Nhật chưa cho thấy một cải thiện đáng kể nào.
Nền nông nghiệp Nhật Bản vẫn duy trì những hộ sản xuất quy mô nhỏ, sản lượng thấp và quan trọng là phụ thuộc vào trợ cấp (cả trực tiếp lẫn gián tiếp). Nhật Bản gia nhập đàm phán TPP trong bối cảnh mà nông nghiệp nước này vẫn chưa thực sự được chuẩn bị đủ để duy trì và tồn tại trước sức ép từ cạnh tranh nội khối.
Nói cách khác, TPP đòi hỏi Tokyo phải tìm giải pháp ngắn hạn nhằm nhanh chóng giải quyết các vấn đề của nền nông nghiệp nước này, song song với việc tiếp tục công cuộc cải tổ nền nông nghiệp Nhật mang hiệu quả cao hơn.
Một trong số các giải pháp được đề xuất là tìm kiếm các đối tác xuất khẩu lương thực lớn thông qua ký kết các hình thức hợp tác kinh tế song phương. Đây được xem là giải pháp hứa hẹn nhằm ổn định và đa dạng hóa việc nhập khẩu lương thực song song với quá trình tự do hóa thương mại đa phương.
Mục tiêu cải thiện khả năng tự cung ứng lương thực sẽ được đảm bảo tốt hơn thông qua các mối quan hệ ổn định và lâu dài với các quốc gia xuất khẩu, giúp tránh được việc phải tham gia vào những khu vực kém ổn định hơn trên thị trường quốc tế.
Mặt khác, đa dạng hóa nguồn cung từ nhiều nước cũng đồng thời làm dịu nguy cơ về những cú sốc trên thị trường trong trường hợp biến động về thời tiết, thiên tai xảy ra. Những ký kết lâu dài cũng có khả năng giảm thiểu các rủi ro về bất ổn giá cả.
Đặt những phương hướng kể trên vào bối cảnh TPP, Nhật Bản hoàn toàn có thể trông đợi việc tìm kiếm một đối tác chiến lược cho một lĩnh vực nhạy cảm như nông nghiệp giữa các nước thành viên.
Thực tế, trước nguy cơ thua trên sân nhà, để giảm chi phí sản xuất, các công ty nông nghiệp Nhật đã bắt đầu tìm kiếm hướng đi, để chuyển một phần quá trình sản xuất lúa gạo ra nước ngoài (outsourcing).
Lựa chọn này cho phép theo đuổi hai mục tiêu cùng lúc: vừa tuân thủ các tiêu chuẩn sản xuất của Nhật, vừa đáp ứng cho nhu cầu thị trường trong nước.
Trong trường hợp trên, các nước thành viên TPP như Việt Nam đương nhiên sẽ giữ vị trí ưu tiên trong tầm nhìn của các doanh nghiệp này. Có những lập luận giải thích cho nhận định trên.
Việt Nam: khi Nhật Bản có thể “lấp khoảng trống” kỹ thuật
Trong khi Nhật Bản đang nỗ lực tìm kiếm một “người bạn” có thế mạnh và đáng tin cậy để hợp tác song phương nhằm giảm áp lực ngành nông nghiệp và hợp thức hóa quy định gia nhập TPP thì Việt Nam lại là quốc gia đang “cần Nhật” ở một bài toán khác.
Tình trạng “gạo nhiều, giá rẻ”, thậm chí là bán ế khiến mấy triệu tấn gạo và vị trí á quân xuất khẩu gạo của Việt Nam trở nên vô nghĩa khi đời sống người nông dân mãi vẫn “không thể khá lên”.
Nhận định về hiện trạng này, nguyên phó thủ tướng Nguyễn Công Tạn cho rằng cứ “ôm” mãi thành tích cường quốc xuất khẩu lúa gạo khi mặt hàng này không mang về nhiều lợi ích đã tạo nên “bài toán khó” cho Việt Nam. Thế nên ông đề nghị phải đổi mới tư duy làm nông nghiệp.
Ông Tạn chỉ rõ chính sách cải cách ruộng đất đã phát huy hết tác dụng cho sản lượng lúa, trong khi khoa học kỹ thuật chỉ đóng góp vào giá trị gia tăng của ngành nông nghiệp trên dưới 30% (so sánh với thế giới là 90%).
Như vậy khó khăn lớn nhất cần giải quyết cho nông nghiệp Việt Nam chính là vấn đề kỹ thuật. Bài học quan trọng mà Việt Nam phải nhìn nhận là chỉ có khoa học kỹ thuật mới giúp nền nông nghiệp chuyển mình từ số lượng sang chất lượng, để đảm bảo lợi nhuận từ ngành nông nghiệp.
Như vậy, trong khi Nhật cần một đối tác chìa khóa có điều kiện phát triển nông nghiệp thì Việt Nam cần một “ổ khóa” phù hợp để trao đổi về mặt kỹ thuật, và may mắn thay cả hai đều đã có những yếu tố quan trọng này.
Việt Nam là một quốc gia có tiềm năng và nguồn lực phù hợp để phát triển ngành nông nghiệp. Nhìn chung, các quốc gia tham gia đàm phán TPP (Úc, Brunei, Canada, Chile, Malaysia, Mexico, New Zealand, Peru, Singapore, Mỹ, Việt Nam và Nhật Bản) có nền kinh tế phát triển chênh lệch nhau ở mức độ nhất định, nhưng nếu xét riêng về ngành nông nghiệp thì Việt Nam là một nước đang ở thế mạnh, tạo nhiều lợi thế so với các nước đang đàm phán TPP.
Bên cạnh đó, quan hệ chính trị Việt - Nhật từ khi hình thành cách đây 40 năm đến nay không ngừng phát triển tích cực qua các thời kỳ. Nguồn vốn viện trợ chính thức (ODA) khởi động từ năm 1977 liên tục tăng.
Từ năm 1995, Nhật Bản là quốc gia cung cấp sự hỗ trợ, đặc biệt là hỗ trợ tài chính, nhiều nhất cho Việt Nam so với các quốc gia khác mà Nhật đã và đang hỗ trợ. Như vậy, tiền đề về chính trị, kinh tế và xã hội trong quan hệ Việt Nam - Nhật Bản đặt ra môi trường thuận lợi cho những mối hợp tác giữa hai quốc gia.
Đã có nhiều chương trình áp dụng tại Việt Nam thông qua nguồn vốn ODA, trong đó lĩnh vực giáo dục được xem là một trong những điểm sáng. Đây là những tiền đề quan trọng để hai bên tiến hành hợp tác trong một lĩnh vực nhạy cảm như nông nghiệp.
Lựa chọn mô hình
Về góc độ lý thuyết, có thể hình dung bốn kịch bản hợp tác nông nghiệp Nhật Bản - Việt Nam như sau:
Một là mô hình Payroll Outsourcing: các doanh nghiệp Nhật Bản sẽ thông qua việc thuê các công ty bên ngoài thực hiện chế độ trả lương cho nhân viên sản xuất nông nghiệp của họ tại Việt Nam. Nghĩa là, họ đến Việt Nam với vai trò là công ty xuyên quốc gia, thuê các nhân lực nội địa thực hiện dự án đầu tư nông nghiệp của mình.
Đây được xem là hình thức ngày càng thông dụng khi các công ty được thuê chính là những đơn vị hơn ai hết hiểu rõ tầm quan trọng của việc tư vấn về nhân sự, bao gồm từ khâu tuyển chọn nhân sự, trả lương, luân chuyển vị trí làm việc cho đến khâu đánh giá chất lượng công việc. Vì thế, khi sử dụng dịch vụ này từ các công ty tư vấn nhân sự, các doanh nghiệp - khách hàng thường cảm thấy yên tâm hơn.
Hai là mô hình chỉ định hợp đồng: các doanh nghiệp Nhật Bản đưa ra một bộ quy chuẩn kỹ thuật và chất lượng gạo nhằm đặt hàng các công ty có năng lực của Việt Nam thực hiện hợp đồng thương mại.
Mô hình này không tạo áp lực cho doanh nghiệp Nhật Bản do họ không phải can thiệp vào quá trình sản xuất, nhưng lại phụ thuộc vào lượng cung. Nếu lượng cung không đảm bảo thì an ninh lương thực Nhật Bản, hiệu quả kinh doanh các doanh nghiệp gặp khó.
Ba là chuyển nhượng kỹ thuật: Các doanh nghiệp Nhật Bản sẽ chuyển nhượng quy trình sản xuất, kỹ thuật sản xuất, yêu cầu chất lượng sản xuất nhằm hỗ trợ sản xuất cho doanh nghiệp Việt Nam.
Theo đó, Việt Nam sẽ được tập huấn và nhận quy trình tiên tiến, hiện đại trong quá trình sản xuất nông nghiệp. Đổi lại, Việt Nam sẽ thực hiện xuất khẩu gạo theo quy trình trên sang Nhật, tạo nên hiệu quả “cả hai cùng thắng” (Win - Win).
Bốn là thuê ngoài ngoại biên (offshore outsourcing): Đây là hình thức thuê ngoài qua việc di chuyển một phần việc làm của các doanh nghiệp tại Nhật Bản sang các nước đang phát triển như Việt Nam nhằm tận dụng lợi thế chi phí nhân công rẻ nhằm tạo ra ưu thế cạnh tranh.
Theo đó, các doanh nghiệp Nhật Bản sẽ chuyển việc sản xuất nông nghiệp sang Việt Nam. Nói một cách dễ hiểu, doanh nghiệp sản xuất gạo của Nhật tiến hành qua Việt Nam đầu tư và đứng ra tổ chức sản xuất, thuê nông dân Việt Nam thực hiện sản xuất lúa gạo.
Như vậy, cơ chế ổ khóa - chìa khóa nông nghiệp Việt - Nhật là cơ hội lớn không chỉ cho chính quyền Abe thực hiện chiến lược của mình, mà còn là cơ hội lớn để nông nghiệp Việt Nam “đổi đời”. Câu hỏi được đặt ra ở đây, là liệu nông nghiệp Việt Nam có đủ bản lĩnh để nắm bắt thời cơ này hay không?

Chia sẻ với bạn việc tàu to gặp sóng cả

Tại Mai Linh, sau nhiều thời gian đi tìm nhà lãnh đạo có thể nhận chức vụ CEO để ông Hồ Huy rảnh tay tập trung vào công tác của Hội đồng quản trị, một ứng cử viên đã xuất hiện là bà Bùi Bích Lân. Tuy nhiên, sau vỏn vẹn 8 ngày nhận nhiệm sở, Tổng giám đốc mới của Mai Linh đã xin từ chức. Cực chẳng đã, ông Hồ Huy đành phải tiếp tục nhiệm vụ chỉ sau 8 ngày tưởng chừng nhẹ gánh.
Có lẽ chưa bao giờ các thuyền trưởng – chủ doanh nghiệp lại gặp phải nhiều sóng to gió lớn như vậy trên thương trường. Ngay cả những con tàu lớn nhất cũng có thể rơi vào tình cảnh của tàu Titanic.
Vào đầu quý 4/2013, danh sách các đại gia lừng lẫy một thời, nay vì thua lỗ mà mang công mắc nợ ngày càng dài ra và số nợ cũng leo thang lên con số hàng ngàn, thậm chí hàng chục ngàn tỷ đồng.
Bão nợ nần, thua lỗ
Theo báo cáo tài chính hợp nhất của Hoàng Anh Gia Lai, tính đến 30/6/2013, tổng tài sản của Tập đoàn đạt 32.980 tỷ đồng, trong đó nợ phải trả là 19.367 tỷ đồng, vốn chủ sở hữu đạt 12.657 tỷ đồng.
Còn Công ty cổ phần Tập đoàn Kỹ nghệ gỗ Trường Thành bao gồm công ty mẹ và 14 công ty con, hoạt động chính là chế biến gỗ và trồng rừng nguyên liệu, hiện đang nợ 13 ngân hàng với số tiền 1.174 tỉ đồng. Nếu tính thêm các món nợ khác ngoài ngân hàng thì tổng số tiền nợ này có thể lên đến gần 1.500 tỷ đồng.
Tập đoàn Cà phê Thái Hòa cũng đang gánh khoản nợ với 10 ngân hàng khoảng 1.200 tỷ đồng, thêm với khoản nợ 100 tỷ đồng từ việc phát hành trái phiếu. Chẳng trách, Thái Hòa đang đứng ngồi không yên.
Trong khi đó, Mai Linh vừa phải tìm cách huy động 1.000 tỷ đồng bằng cách phát hành 100 triệu cổ phiếu cho cổ đông chiến lược nhằm lấy tiền trả ngay (800 tỷ đồng) cho số nợ vay ngắn hạn. Phần còn lại để đầu tư thêm vào việc làm ăn đang gặp nhiều khó khăn.
Cùng với nợ ngân hàng, nợ lương nhân viên, nợ từ các nguồn huy động khác, nhiều đại gia khác còn đang đứng đầu danh sách nợ thuế. Ví như Công ty Sông Đà Thăng Long đang nợ 283 tỷ đồng tiền thuế. Công ty cổ phần Cầu 12 – Cienco 1 cũng nợ tới 81 tỷ đồng. Viglacera Hà Nội cũng đang nợ thuế hơn 70 tỷ đồng…
Dĩ nhiên, các con nợ này cũng khiến các khổ chủ – ngân hàng lao đao. Chỉ riêng vụ Gỗ Trường Thành (TTF) đã có 13 ngân hàng “dính trấu”.
Tính sơ sơ, riêng Ngân hàng Ngoại thương – Chi nhánh Bình Dương có dư nợ cho vay đối với TTF là trên 232 tỉ đồng, Ngân hàng Quân đội trên 177 tỉ đồng, Ngân hàng Phát triển Nhà TP.HCM là trên 174 tỉ đồng, Ngân hàng Đông Á – Chi nhánh Bình Dương là trên 162 tỉ đồng, Ngân hàng Kiên Long – Chi nhánh Bình Dương trên 99 tỉ đồng, Ngân hàng Sài Gòn Hà Nội – Chi nhánh Phú Nhuận trên 79 tỉ đồng…
Trong khi đó, Tập đoàn Thái Hòa đang làm khổ 10 ngân hàng, như Ngân hàng Phát triển Việt Nam, Ngân hàng cổ phần Ngoại thương Việt Nam, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam, Agribank, Vietcombank và VDB…
Đó là chưa kể đến những chủ nợ “be bé” như các khách hàng, đối tác, người lao động mà chỉ cần một khoản nợ nhỏ từ các đại gia cũng có thể khiến họ lâm vào phá sản hay giải thể, ảnh hưởng đến đời sống gia đình.
Nhân tài như lá mùa thu
Ông Hồ Huy, Tổng giám đốc Mai Linh từng công khai thừa nhận những sai lầm trong kinh doanh của mình và đang gắng sức sửa sai. Điều này cũng có thể nhìn thấy tại Hoàng Anh Gia Lai với hàng loạt quyết định mau chóng và táo bạo của Bầu Đức khi đề ra mục tiêu đến cuối năm 2013 giảm nợ xuống còn 10.000 tỷ đồng và vốn chủ sở hữu lên trên 13.000 tỷ đồng.
Hầu hết các đại gia buộc phải nỗ lực thực hiện cuộc “vạn lý trường chinh” nhằm tái cấu trúc doanh nghiệp. Tuy nhiên, việc biến những chú voi khổng lồ thành nai con thon thả thật không dễ dàng gì, kể cả khi vời đến các công ty tư vấn với số tiền không nhỏ.
Trong khi đó, bà Nguyễn Thị Như Loan, Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc Quốc Cường Gia Lai (QCGL) cho biết, khi công ty ăn nên làm ra thì nhiều nhân sự muốn đảm trách các công việc quan trọng. Nhưng khi QCGL lâm vào tình trạng nợ nần chồng chất, khó khăn bịt bùng thì tuyển được người dám gánh vác công việc lãnh đạo và quản lý thật là khó khăn.
Tại Mai Linh, sau nhiều thời gian đi tìm nhà lãnh đạo có thể nhận chức vụ CEO để ông Hồ Huy rảnh tay tập trung vào công tác của Hội đồng quản trị, một ứng cử viên đã xuất hiện là bà Bùi Bích Lân. Tuy nhiên, sau vỏn vẹn 8 ngày nhận nhiệm sở, Tổng giám đốc mới của Mai Linh đã xin từ chức. Cực chẳng đã, ông Hồ Huy đành phải tiếp tục nhiệm vụ chỉ sau 8 ngày tưởng chừng nhẹ gánh.
Tương tự, chỉ trong vòng hơn 1 tháng qua, Hoàng Anh Gia Lai đã miễn nhiệm 3 nhân sự chủ chốt của tập đoàn, bao gồm ông Lê Hùng – Thành viên HĐQT; ông Nguyễn Văn Tốn – Trưởng Ban kiểm soát và mới đây nhất là ông Trà Văn Hàn – Phó Tổng giám đốc. Ông Trà Văn Hàn có thâm niên làm việc tại HAGL trên 20 năm, là một trong những nhân sự lâu năm nhất của Tập đoàn.
Tuy cả ba ông được điều chuyển sang Công ty An Phú, cũng là công ty con của Hoàng Anh Gia Lai, nhưng điều đó cũng có nghĩa là việc điều hành tập đoàn mẹ Hoàng Anh Gia Lai lại do Bầu Đức tiếp tục gánh vác. Và vì vẫn phải tiếp tục tự chèo, tự bơi trong khi sóng cả, gió to nên các thuyền trưởng – các đại gia này không còn cách nào khác, buộc phải tự bơi vào bờ hoặc… chìm nghỉm.
Tinh thần Jack Welch
Tái cấu trúc và lãnh đạo thành công tái cấu trúc là chiến lược mà các đại gia muốn sống sót trước nguy cơ phá sản buộc phải thực hành một cách vững vàng. Bài học từ Jack Welch, CEO huyền thoại của Tập đoàn GE – Mỹ có thể là điều mà họ cần tham khảo.
Trước khi nhậm chức, nếu như mỗi bộ phận của GE thường có 9 đến 11 cấp độ hành chính thì vào năm 1991, Jack đã cắt xuống còn 4 đến 6 cấp. Điều này cho phép ông chuyển giao quyền lực trực tiếp đến các cấp lãnh đạo thấp hơn, nơi mà – theo ông – vấn đề thường phát sinh đầu tiên và các giải pháp cũng gần như sẵn có. Ông đã giảm số nhân viên văn phòng từ 1.700 xuống còn 1.000.
Sự cắt giảm liên tục diễn ra ở mọi bộ phận. Tính ra, GE đã cắt giảm tổng cộng 180.000 lao động. Jack đã bán đi một số bộ phận kinh doanh chủ chốt và cắt giảm tới 50% lao động vào những năm 80.
Tất nhiên là các quyết định này thật không dễ dàng gì, vì nó đã tác động tiêu cực đến tinh thần làm việc. Người lao động phân thành hai thái cực: một phía khâm phục, kính trọng; phía kia căm ghét. Nhiều tổ chức lao động đã phát ngôn chống đối Jack.
Tuy nhiên, thực tế đã chứng tỏ sự cắt giảm khốc liệt mà J. Welch thực hiện chính là điều mà GE thực sự cần. Jack đề cao khả năng tập trung cao độ vào công việc, coi đó là chìa khóa để GE có thể trở thành công ty thứ nhất hoặc thứ hai về thị phần trong mọi lĩnh vực kinh doanh mà công ty tham gia.
Khi mọi việc đã ổn hơn, Jack đã dịch chuyển trọng tâm quản lý từ mục tiêu cắt giảm chi phí, hợp lý hóa cấu trúc sang mục tiêu hướng đến giá trị con người. Jack khẳng định sự chuyển hướng sẽ không thể diễn ra trước khi thực hiện hợp lý hóa cấu trúc công ty: “Nếu công ty có cấu trúc quá cồng kềnh, những giá trị đó sẽ không thể thực sự giúp công ty phát triển”.
Cựu CEO của một ngân hàng thương mại cổ phần lớn ở Việt Nam tiết lộ: “Đời làm CEO của tôi đã qua nhiều thăng trầm. Kinh nghiệm là cần phải bình tĩnh, chịu đựng những giờ phút khó khăn nhất và chờ thời cơ để xoay chuyển tình thế. Qua cơn sóng to gió cả, thuyền sẽ cập bến bình yên thôi. Vượt sóng lớn cũng là lúc thử sức lực và bản lĩnh của mình”.

Cùng bạn tìm hiểu: Khách Trung Quốc đã mở hầu bao

Thực tiễn đó đã thúc đẩy hướng dẫn viên du lịch này có ý tưởng mở cửa hàng chuyên bán cho khách Trung Quốc. Để cạnh tranh với chợ và siêu thị, cửa hàng này tập hợp đủ các mặt hàng ưa thích của khách Trung Quốc, nhưng chú ý chất lượng, nhãn hiệu, đóng gói. Xu hướng này đang được thăm dò với một vài cửa hàng chuyên doanh các mặt hàng đặc sản.

Khách sộp
Tại chợ Hàn (Đà Nẵng) có thể nhìn thấy hình ảnh của "người mua hàng số 1 thế giới" đang thay thế cho các dòng khách du lịch. Những năm trước, đây là mùa thấp điểm của du lịch nội địa, chợ vắng.
Nhưng năm nay, với 20 đường bay trực tiếp kết nối các thành phố lớn phía Nam Trung Quốc với Đà Nẵng đã thúc đẩy khách ồ ạt đổ vào miền Trung làm không khí mua sắm ở các tụ điểm thương mại sôi động hẳn.
Các tiểu thương chợ Hàn không biết du khách Trung Quốc đã vung ra 102 tỷ USD mua sắm khắp thế giới trong năm 2012, nhưng căn cứ vào cung cách vét hàng của dòng khách này, họ yên tâm trữ hàng chục tấn đặc sản chờ khách đến ngay khi dòng khách từ Hà Nội đã vãn.
Bà Nguyễn Thị Phi, chuyên doanh hàng khô ở chợ Hàn cho hay, khách Trung Quốc mua sắm nhiều loại thực phẩm khô về làm quà, từ trà, cà phê, hạt sen đến các loại cá tôm khô, rong biển, vi cá mập và đặc biệt là tổ yến sào Cù Lao Chàm rất được ưa chuộng.
Tại siêu thị , du khách Trung Quốc tụ tập ở các gian hàng bán cà phê đóng gói Trung Nguyên, trái cây sấy khô Vinamit, có người mua cả bánh, sữa hộp và rất nhiều trái cây tươi.
Hóa đơn của mỗi khách Trung Quốc mua thực phẩm tại siêu thị thường lên trên vài triệu đồng. Khách Trung Quốc tin tưởng hàng Việt Nam ít hóa chất hơn, vì vậy họ không nề hà việc mua hàng đặc sản địa phương tại chợ.
Khách quốc tế đến Việt Nam trong 9 tháng ước tính đạt 5,49 triệu lượt người, tăng 9,9% so với cùng kỳ năm trước. Dẫn đầu là Trung Quốc 1,359 triệu lượt người, tăng 37%; Hàn Quốc 562 ngàn lượt, tăng 6,8%; Nhật Bản 450 ngàn, tăng 5,1%; Campuchia 247,7 ngàn, tăng 4,5%; Úc 238,6 ngàn, tăng 12,5%; Malaysia 237,1 ngàn, tăng 12,5%; Liên bang Nga 206 ngàn, tăng 65,9%; Thái Lan 195 ngàn, tăng 23,1%; Anh 136,1 ngàn, tăng 8%. Một số nước và vùng lãnh thổ có lượng khách đến giảm so với cùng kỳ năm trước là: Mỹ 328,2 ngàn, giảm 3,1%; Đài Loan 297,6 ngàn, giảm 6,3%; Pháp 157,6 ngàn, giảm 6,7%; Singapore 136,3 ngàn, giảm 2,1%; Lào 96,3 ngàn; giảm 10%; Canađa 77,5 ngàn, giảm 11,6%.
Một số khảo sát của Công ty CBRE cũng cho thấy sự khởi sắc trở lại của các trung tâm thương mại cao cấp ở miền Trung nhờ vào sức mua hàng hiệu của du khách Trung Quốc.
Giày dép, túi xách, vali và quần áo thời trang của các nhãn hiệu lớn chủ yếu nhắm vào dòng khách này. Người Trung Quốc còn đặc biệt ưa thích hàng lưu niệm có tính tâm linh và đổ khá nhiều tiền mua các loại tượng Phật, và đồ phong thủy tại các trung tâm hàng lưu niệm đá Ngũ Hành Sơn.
Chắc chắn với sở thích mua sắm khi du lịch và không đòi hỏi cao về xuất xứ hàng hóa, du khách Trung Quốc rồi đây sẽ thành khách hàng số 1 được chào đón ở Việt Nam.
Khác hẳn
Chị Hồ Hà Liễu, một hướng dẫn viên du lịch nhận xét: "Khách du lịch Trung Quốc đến Việt Nam bây giờ đã khác mấy năm trước. Họ ở các khách sạn ven biển 4 - 5 sao Đà Nẵng, Hội An và Nha Trang, muốn ăn ngon và thích mua sắm".
Chị Liễu đã chứng kiến nhiều khách Trung Quốc bỏ ra cả chục ngàn USD để mua tượng Phật bằng đá tại khu vực Đà Nẵng, mua sắm hàng tơ lụa và mành tre tại Hội An. Sự vung tay mua sắm đó xuất phát từ các thông tin du khách đã nắm được về thương hiệu hàng thủ công mỹ nghệ, và chất lượng thực phẩm tốt.
Thực tiễn đó đã thúc đẩy hướng dẫn viên du lịch này có ý tưởng mở cửa hàng chuyên bán cho khách Trung Quốc. Để cạnh tranh với chợ và siêu thị, cửa hàng này tập hợp đủ các mặt hàng ưa thích của khách Trung Quốc, nhưng chú ý chất lượng, nhãn hiệu, đóng gói. Xu hướng này đang được thăm dò với một vài cửa hàng chuyên doanh các mặt hàng đặc sản.
Một trung tâm thương mại theo mô hình chợ hiện đại của Công ty THHH Phước Tiến đầu tư đã không tồn tại nổi khi chưa bắt kịp xu hướng phục vụ khách Trung Quốc mà hướng vào dòng khách nội địa phía Bắc. Đến nay vẫn chưa có những trung tâm hoặc cửa hàng lớn khai thác dòng khách Trung Quốc.
Với xu hướng tăng nhanh lượng du khách theo đà cải tiến thủ tục , giảm phí cấp thẻ du lịch, mở nhiều đường bay mới vào nội địa Việt Nam, khách Trung Quốc đã lựa chọn bãi biển Hạ Long, Đà Nẵng, Hội An, Nha Trang, Ninh Thuận để đi nghỉ thay cho các bãi biển đắt đỏ gấp nhiều lần tại chính Trung Quốc.
Có thể hy vọng số khách du lịch Trung Quốc đạt xấp xỉ 2 triệu lượt trong năm 2013. Theo dự báo của một số công ty lữ hành lớn chuyên về thị trường Trung Quốc, lượng khách sẽ tiếp tục tăng trưởng trong các năm tới nhờ sự nỗ lực đầu tư quảng bá về du lịch Việt Nam. Đầu tư cho dòng khách này, mua sắm vẫn là kênh chưa nhiều cạnh tranh.

Thú vị với một số thương hiệu không nhà máy

Ngoài bao bì, việc tìm ra công thức riêng để tạo sản phẩm khác biệt cũng là một hướng đi mà các DN thương mại đang tập trung đầu tư. Đó vừa là lợi thế cạnh tranh, vừa là bí quyết để DN đặt gia công bảo vệ mình, chẳng hạn Kinh Đô dẫu có thể biết được 90% công thức của bánh Moringa, nhưng bột Moringa sản xuất ra bánh thì chỉ có TMTM mới có "bí quyết".
Dựa vai những thương hiệu sản xuất lớn như Kinh Đô hay Miliket để làm thương hiệu bánh hoặc mì gói giúp TMTM có nhiều lợi thế về sản xuất cũng như thương hiệu khi tung ra sản phẩm mới.
Đường ra thị trường ngắn nhất
Công ty TMTM chiết xuất thành công bột Moringa (cây chùm ngây) và đưa vào sản xuất trà túi lọc Moringa (nhãn hiệu Loyal) có công dụng ngăn ngừa một số bệnh như sâu răng, làm chắc xương, lợi sữa, cảm cúm, tái tạo hồng huyết cầu, làm sáng mắt, ổn định nhịp tim... nên có được thị trường trong nước và đã xuất khẩu sang Đức, Pháp, Singapore, Hồng Kông...
Với thành công này, TMTM tiếp tục đưa Moringa vào sản xuất hàng loạt sản phẩm dinh dưỡng gồm mì gói, cháo, bánh craker, cakes, cookies thương hiệu Moringa như một lợi thế riêng. Tuy nhiên, với các dòng sản phẩm này, TMTM đã không chọn mô hình sản xuất trực tiếp mà chọn đặt gia công theo công thức riêng.
Đại diện Công ty TMTM phân tích: "Nếu đầu tư một dây chuyền sản xuất bánh đạt tiêu chuẩn chất lượng cao, phải đầu tư khoảng 4-8 triệu USD, chưa kể chi phí đầu tư nhà xưởng, chi phí quản lý, nhân công, riêng quy trình đạt tiêu chuẩn HACCP còn phải mất thời gian khá lâu. Vì vậy, chọn phương án gia công, cái lợi đầu tiên là tiết giảm hơn 50% chi phí đầu tư, sản phẩm lại ra thị trường nhanh hơn và có nhiều thời gian, tâm trí để tập trung làm thị trường, thương hiệu".
Thực tế, chỉ trong vòng ba năm, các sản phẩm mì gói, bánh Moringa đã có mặt rộng trên thị trường và tạo được lợi thế cạnh tranh. Chỉ tính riêng mì gói, trong vòng một năm, TMTM đã tiêu thụ được 5.000 thùng, tốc độ tăng trưởng 100%.
Với thế mạnh có các đối tác và hệ thống phân phối rộng ở nước ngoài, ông Nguyễn Thanh Sơn, Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc Tập đoàn Bảo Minh, cho biết, ông đã chọn một số mặt hàng "đặc trưng" của Việt Nam đang được một số thị trường nước ngoài ưa chuộng như cà phê, tiêu, điều, bánh tráng đậu phộng... để làm thương hiệu riêng cho Bảo Minh và xuất khẩu.
Mô hình gia công này tiết kiệm cho Bảo Minh gần 70% chi phí đầu tư, để tập trung cho đầu tư thương hiệu, thiết kế mẫu mã. Theo ông Sơn, Bảo Minh còn có một loạt lợi thế khác là khi sản phẩm bán không chạy hoặc thị trường bão hòa, nhà phân phối sẽ chuyển sang mặt hàng khác mà không sợ lỗ chi phí đầu tư nhà xưởng, thiết bị, nhân công...
Vì vậy, Bảo Minh xuất khẩu thành công khá nhiều mặt hàng như cà phê, bánh tráng đậu phộng... sang Thái Lan, Mỹ, Ý, Trung Quốc và Malaysia. Chỉ riêng năm 2012, thương hiệu cà phê của Bảo Minh đã xuất khẩu hơn 100 tấn.
Với bài tính này, Công ty 7P cũng chọn gia công trà ở một công ty của Đài Loan tại Di Linh - Lâm Đồng. Mặc dù thị trường trà cạnh tranh rất khốc liệt nhưng 7P vẫn có lợi thế do giá thành cạnh tranh và đặc biệt chất lượng ổn định.
Ở lĩnh vực thực phẩm chức năng, ông Phạm Phú Thăng, Phó tổng giám đốc Công ty Hoa Thiên Phú, cũng cho rằng, chọn gia công là để tập trung tìm thị trường, khi có đầu ra ổn định, khá vững rồi, mới có kế hoạch xây dựng nhà máy. Như vậy sẽ tránh rủi ro khi phải bỏ quá nhiều chi phí đầu tư.
Mặt trái của gia công
Tuy nhiên, mô hình hợp tác hoặc gia công cũng có không ít rủi ro. Ông Nguyễn Ngọc Tuấn, Giám đốc Công ty 7P, cho rằng: "Một trong những rủi ro khi đi gia công là khó kiểm soát về chất lượng, còn nếu mua nguyên liệu thì không đồng nhất. Điều này gây ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng sản phẩm và thương hiệu.
Vì vậy, việc chọn đối tác gia công hoặc cung cấp nguyên liệu vô cùng quan trọng". Theo ông Tuấn, hầu hết các đơn vị sản xuất trà tại Việt Nam đều làm bán thủ công từ khâu trồng đến thu hoạch, sao chế nên chất lượng trà không đồng nhất.
Vì vậy, trà xanh Song Hỷ của 7P đã chọn nguyên liệu từ vùng Tân Cương - Thái Nguyên, vì trà ở đây chất lượng cao và đơn vị gia công cũng chỉ sử dụng phân bón hữu cơ.
Tương tự, trà Oolong Song Hỷ cũng được đặt gia công từ một công ty của Đài Loan tại Di Linh, vốn trước đây là công ty của một doanh nhân người Nhật có kinh nghiệm trồng trà xuất khẩu sang Nhật Bản và Đức.
Một hạn chế khác, theo ông Thăng, là do công ty nhận gia công không nhiều nên không đáp ứng được nhu cầu của đơn vị đặt gia công, hoặc dây chuyền thiết bị không đáp ứng công suất.
Ông Nguyễn Cát Chinh, Giám đốc Công ty Cát Tường, chủ nhãn hiệu bánh phở Cát Tường, cũng chia sẻ, mặc dù có hợp đồng, cam kết chất lượng với đơn vị gia công nhưng do không cử người giám sát quá trình sản xuất tại cơ sở gia công nên thương hiệu bánh phở Cát Tường mới đây đã gặp phải sự cố về chất lượng, mất nhiều thời gian để khắc phục.
Tuy nhiên, theo đại diện Công ty TMTM, những rủi ro, hạn chế này chỉ rơi vào những công ty làm ăn nhỏ lẻ. Nếu chọn công ty gia công là những DN lớn, tiềm lực mạnh thì những hạn chế, rủi ro này sẽ khó xảy ra, nhất là khi sản phẩm ghi rõ đơn vị sản xuất, nghĩa là đồng chịu trách nhiệm với đơn vị đặt gia công.
Đơn cử, khi chọn đối tác gia công mì gói, cháo ăn liền và bánh Moringa là hai công ty lớn Kinh Đô và Miliket, TMTM đã rút ngắn nhất đường đưa sản phẩm ra thị trường. "Bởi chúng tôi đang "dựa vai" những người khổng lồ nên sức cạnh tranh cũng tốt hơn do cộng hưởng uy tín thương hiệu từ đơn vị sản xuất uy tín", vị đại diện TMTM khẳng định.
Tương tự, đại diện Công ty Shinshu NT của Nhật Bản cũng cho biết, sở dĩ Shinshu NT chọn nhà máy thực phẩm D&F (Đồng Nai) làm đối tác gia công một số sản phẩm từ thịt heo (ba rọi xông khói, jambon...), do D&F có thương hiệu, đáp ứng yêu cầu về vệ sinh an toàn thực phẩm.
Và trong quá trình chế biến, đóng gói sản phẩm, Shinsu NT đều có người phụ trách kỹ thuật kiểm soát. Trên nhãn mác, bao bì cũng ghi rõ sản xuất tại nhà máy D&F để cùng chịu trách nhiệm, tránh việc sản phẩm tung ra thị trường không đúng chất lượng cam kết.
Chia sẻ thêm kinh nghiệm hợp tác, đại diện TMTM cho rằng, việc giữ bí quyết công thức, liên tục cải tiến sản phẩm cũng là cách để hợp tác lâu dài.
Thế thủ của bên thủ thế
Điểm yếu của nhà sản xuất là điểm mạnh của DN thương mại, và ngược lại. Nếu gạt bỏ các e ngại thì cả hai bên vẫn phải có những chiêu thủ thế, giữ cho hợp tác được bền chặt.
Một trong những lý do các DN thương mại chọn sản phẩm nông nghiệp như trà, cà phê, tiêu, thực phẩm để gia công vì đây là sản phẩm thế mạnh đặc trưng của Việt Nam, nhưng các DN sản xuất thường yếu trong khâu làm thương hiệu và phân phối.
Đơn cử trà của Việt Nam xuất khẩu đứng hàng thứ hai, thứ ba trên thế giới nhưng đa số chỉ bán nguyên liệu với giá rất thấp, khoảng từ 5-8 USD/kg.
Ngay cả một số thương hiệu trà nổi tiếng của Việt Nam như Tân Cương, Thái Nguyên bao bì chỉ là nylon, không phải bao thiếc bạc, hút chân không nên bảo quản không tốt, trà mau bị mất mùi. Vì vậy, nhiều DN thương mại đã "chớp điểm yếu" này để đặt gia công sản phẩm hoặc hợp tác xuất khẩu hoặc bán trong nước.
Để sản phẩm dễ được thị trường đón nhận, yếu tố đầu tiên các DN thương mại chú trọng là đầu tư bao bì, nhãn mác. Đơn cử như Công ty Trà, Cà phê Phúc Long đã nhập hộp thiếc từ Đài Loan, Trung Quốc nên hộp trà nhìn rất cao cấp, không khác sản phẩm ngoại.
Tương tự, bao bì của trà Song Hỷ cũng chiếm đến 25% chi phí giá thành, tất cả đều được đóng gói bằng bao thiếc bạc hút chân không, có màng co bảo quản và in cao cấp.
Theo số liệu của Trung tâm Nghiên cứu kinh doanh và Hỗ trợ DN (BSA), hiện có khoảng 50 DN sản xuất trong nước đang gia công hàng nhãn riêng cho các hệ thống siêu thị hoặc DN thương mại.
Trong khi nhiều DN "sống khỏe" nhờ làm nhãn hàng riêng cho siêu thị, có không ít DN lo ngại nguy cơ mất trắng thương hiệu. Cũng như vậy, các DN thương mại cũng lo ngại bị mất kênh phân phối hoặc bị DN gia công ngừng hợp tác...
Ngoài bao bì, việc tìm ra công thức riêng để tạo sản phẩm khác biệt cũng là một hướng đi mà các DN thương mại đang tập trung đầu tư. Đó vừa là lợi thế cạnh tranh, vừa là bí quyết để DN đặt gia công bảo vệ mình, chẳng hạn Kinh Đô dẫu có thể biết được 90% công thức của bánh Moringa, nhưng bột Moringa sản xuất ra bánh thì chỉ có TMTM mới có "bí quyết".
Chắc ăn hơn, khi chọn thương hiệu cà phê PhinDeli để đưa vào thị trường Mỹ, ông Phạm Đình Nguyên, Chủ tịch Công ty PhinDeli, đã chọn phương án "gia công" bằng cách mời một đối tác sản xuất cà phê tham gia vào cổ đông của công ty và cách làm thương hiệu Phin Deli nhanh nhất, gắn với tên thị trấn Buford (Mỹ).
Theo ông Nguyễn Thanh Sơn, Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc Tập đoàn Bảo Minh: "Lợi thế lớn nhất của các DN làm thương mại là biết làm marketing và phân phối. Và ở mỗi thị trường, kể cả trong và ngoài nước, cách làm thương hiệu, marketing cũng khác nhau.
Chẳng hạn, cùng một loại cà phê nhưng khi xuất khẩu qua Mỹ thì bao bì phải chọn màu phù hợp với thị hiếu thị trường, đó là màu xanh zamaha pha lẫn màu hột gà, trong khi đó, bao bì ở Thái Lan lại thích nhiều màu sắc...
Song, quan trọng nhất là phải hiểu gu thị trường và tổ chức được hệ thống phân phối. Cách làm của Bảo Minh là kết nối một nhóm nhà phân phối ở các nước, tận dụng lợi thế của họ là người bản địa nên dễ tiếp thị sản phẩm, đồng thời họ cũng là cầu nối cung cấp thông tin nhu cầu thị trường để mình tiếp tục cung ứng".
Ngành hàng tiêu dùng nói chung và thực phẩm nói riêng luôn cần phải chi rất mạnh cho việc bán hàng, như quảng cáo, khuyến mãi, xây dựng hệ thống phân phối...
Chẳng hạn, Vinamilk là một trong những doanh nghiệp lớn nhất ngành thực phẩm và chi phí cho bán hàng của Công ty cũng lên tới hàng ngàn tỷ đồng, chiếm phần lớn trong chi phí bán hàng là các khoản chi cho quảng cáo, khuyến mãi và hỗ trợ nhà phân phối.
Vì thế, việc hợp tác với các DN thương mại trong marketing và phân phối là lựa chọn của nhiều DN sản xuất hiện nay, đặc biệt trong bối cảnh lợi nhuận chịu sức ép khi giá xuất xưởng chỉ thay đổi một chút do sức ép cạnh tranh, nỗ lực bán hàng, khách hàng yêu cầu giảm giá.
Mặt khác, việc hợp tác cũng có những tác dụng tích cực như giúp DN sản xuất tối đa hóa được công suất máy móc, không phải gia công cho các đối thủ trực tiếp trên thị trường, không phải cạnh tranh cả trên kênh truyền thống, tăng doanh thu và lợi nhuận, không phải mất chiết khấu cho nhà phân phối...
Với trà xanh Song Hỷ, Công ty 7P tập trung phát triển thương hiệu tại thị trường trong nước, sau đó mới tính đến xuất khẩu. Ngoài kênh phân phối tại siêu thị, cách tiếp thị sản phẩm của 7P là cho người tiêu dùng uống thử trà tại các điểm bán lẻ, đồng thời mở 5 chuỗi cửa hàng tại các trung tâm thương mại như Vincom Center, Parkson Hùng Vương... Bên cạnh đó, Công ty còn mở cửa hàng kinh doanh theo mô hình vừa chuyên bán trà, vừa là điểm đến để khách có thể thưởng thức trà.
Mục đích mô hình này là tạo ra thị trường, gu uống và thói quen uống trà, dần dần thay đổi nhận thức của người uống trà, không chỉ xem trà như một thức uống mà còn là gu thưởng thức. Tương tự, Phúc Long cũng đầu tư mở chuỗi cửa hàng cà phê, đồng thời nơi đây cũng là điểm giới thiệu trà và bán trà.
Trong khi đó, theo cách làm của TMTM, cách tiếp thị sản phẩm hiệu quả nhất là giao cho các công ty phân phối chuyên nghiệp. Riêng cách làm thương hiệu thì chọn các mạng truyền thông và đưa sản phẩm trực tiếp đến người tiêu dùng thông qua việc tài trợ sản phẩm cho bà con bị bão lụt, thiên tai, các chương trình hội thảo, hội nghị...
Và tại các chương trình TMTM tài trợ, Công ty cũng "tiếp thị” hệ thống nhân diện thương hiệu sản phẩm Moringa đến với khách hàng bằng các thiết kế theo màu sắc đặc trưng của Moringa.
Hoa Thiên Phú chọn cách tiếp thị sản phẩm bằng các chương trình nhắm đến phụ nữ, thực hiện thường xuyên các chương trình kích cầu, khuyến mãi, trúng thưởng với các giải thưởng cao như trúng vàng, xe máy...

Tìm hiểu thực hư Công văn 7527: Đẩy khó cho doanh nghiệp

Việc không thể kiểm soát được thuế GTGT còn đẩy doanh nghiệp mua bán nông sản vào thế tranh mua, tranh bán. Nhiều doanh nghiệp “ma” sẵn sàng trả giá cao hơn giá thị trường cho nông dân để gom hàng bán lại cho doanh nghiệp khác. Sau mỗi thương vụ mua bán là các doanh nghiệp “ma” này biến mất.
Vừa phải lo đẩy mạnh kinh doanh, tìm kiếm thị trường, doanh nghiệp vừa phải canh cánh lo đối phó với cơ quan thuế.
Nhằm hạn chế tình trạng chiếm đoạt tiền thuế giá trị gia tăng (GTGT) của Nhà nước, nhưng trên thực tế Công văn 7527/BTC-TCT đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động của nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là những doanh nghiệp xuất khẩu nông sản.
Công văn làm khó doanh nghiệp
Nếu như trước Công văn 7527/BTC-TCT, cơ quan thuế chỉ xem xét hóa đơn, chứng từ của người cung ứng nguyên liệu trực tiếp cho doanh nghiệp xuất khẩu, xét thấy hợp lệ là doanh nghiệp được hoàn thuế giá trị gia tăng (GTGT), thì giờ đây doanh nghiệp xuất khẩu phải chờ cơ quan thuế xác minh đến tận người bán đầu tiên. Không có gì sai sót doanh nghiệp mới được hoàn thuế.
Ông Nguyễn Nam Hải, Tổng Giám đốc Công ty Cà phê Việt Nam than thở: “Doanh nghiệp xuất khẩu mua cà phê nguyên liệu từ nhà cung ứng, tạm gọi là người thứ nhất, nhưng người này cũng phải gom cà phê từ người thứ hai, thứ ba đến thứ n.
Lúc trước cơ quan thuế chỉ cần kiểm tra chứng từ của người thứ nhất, thấy hợp lý là hoàn thuế GTGT cho doanh nghiệp xuất khẩu. Nhưng giờ đây, họ rà soát tất cả nhà cung ứng, chỉ cần một trong những doanh nghiệp này có sai sót về hóa đơn hoặc bỏ trốn thì doanh nghiệp xuất khẩu sẽ không được hoàn thuế hoặc cơ quan thuế cứ “ngâm” hồ sơ, bắt doanh nghiệp tự đi xác minh”.
Theo lý giải của cơ quan thuế, Công văn 7527/BTC-TCT là để chống thất thu thuế, vì có đơn vị không nộp thuế GTGT mà khoản thuế này nhiều khi chiếm đến 50% số thu của một địa phương.
Vấn đề không chỉ dừng lại việc doanh nghiệp không được hoàn thuế mà còn tác động lớn hơn đến môi trường kinh doanh. Công ty Xuất nhập khẩu Nông sản Packsimex (TP.HCM) là một trường hợp điển hình.
Kim ngạch xuất khẩu hàng năm của doanh nghiệp này lên đến 45 triệu USD, trong đó cà phê chỉ đóng góp 1/3, nhưng vì vướng các quy định của Công văn 7527/BTC-TCT mà mới đây, việc hoàn thuế GTGT không chỉ cà phê mà các mặt hàng khác của công ty cũng bị ách tắc.
“Khoảng 10-12 tỷ đồng hoàn thuế bị ách tắc, chậm đưa vào kinh doanh đã khiến doanh nghiệp bị thiệt hại trên nhiều phương diện, do phải vay ngân hàng bù vào với mức lãi suất cao”, bà Nguyễn Thị Ngọc Mai, Tổng Giám đốc Packsimex bức xúc.
Việc không thể kiểm soát được thuế GTGT còn đẩy doanh nghiệp mua bán nông sản vào thế tranh mua, tranh bán. Nhiều doanh nghiệp “ma” sẵn sàng trả giá cao hơn giá thị trường cho nông dân để gom hàng bán lại cho doanh nghiệp khác. Sau mỗi thương vụ mua bán là các doanh nghiệp “ma” này biến mất.
Doanh nghiệp mua hàng của doanh nghiệp “ma” lại bán qua nhiều trung gian khác trước khi đến tay nhà xuất khẩu. Cả một chuỗi cung ứng như vậy, chỉ cần một doanh nghiệp gian lận thuế GTGT là Nhà nước mất nguồn thu và doanh nghiệp làm ăn đàng hoàng rơi vào tình trạng vi phạm pháp luật.
Như vậy có thể hiểu, chỉ vì tình trạng gian lận thuế của một doanh nghiệp mà cơ quan thuế bắt các doanh nghiệp làm ăn chân chính phải chịu trách nhiệm phần thuế này.
Theo ông Đỗ Hà Nam, Phó Chủ tịch Hiệp hội Cà phê – Ca cao Việt Nam (VICOFA), trước đây tình trạng doanh nghiệp không nộp thuế GTGT không đến mức xấu như vậy, vì lúc đó Bộ Tài chính còn kiểm soát việc in hóa đơn. Sau này Bộ Tài chính giao cho doanh nghiệp tự in hóa đơn nên họ dễ dàng qua mặt cơ quan thuế.
Mặt khác, do kinh tế khó khăn nên trước đây, để hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ, Chính phủ cho doanh nghiệp nợ 6 tháng tiền thuế GTGT để có vốn lưu động kinh doanh. Trong 5 tháng đầu, doanh nghiệp khai báo tử tế, nhưng đến tháng thứ 6 không ít doanh nghiệp đã “biến mất” để trốn thuế.
Khốn đốn vì thuế
Cách đây không lâu, Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ Bảo Thanh (TP.HCM) chuyên xuất khẩu thanh long theo tiêu chuẩn GlobalGAP cũng rơi vào tình trạng không những không được hoàn thuế GTGT mà còn bị truy thu thêm thuế thu nhập doanh nghiệp do cơ quan thuế cho rằng, công ty khai báo giá mua thanh long không hợp lý.
Theo khai báo của Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ Bảo Thanh thì giá mua thanh long từ 23.000 – 39.000 đồng/kg, nhưng cơ quan thuế chỉ chấp nhận mức giá từ 15.000 – 23.000 đồng/kg. Cơ quan thuế cho rằng, công ty khai cao chi phí để trốn thuế thu nhập doanh nghiệp và ra quyết định không những không cho doanh nghiệp được hoàn thuế GTGT mà còn truy thu thêm thuế GTGT.
Mặc dù doanh nghiệp đã giải thích rằng, thanh long trồng theo tiêu chuẩn GlobalGAP có chi phí đầu tư cao nên giá mua phải cao hơn thanh long thông thường, nhưng cơ quan thuế vẫn bác bỏ. Do số tiền truy thu quá lớn, trên 1,8 tỷ đồng nên Bảo Thanh kiện ra tòa.
Mặc dù tòa sơ thẩm xác định rằng, việc cơ quan thuế khảo sát ở các chợ chưa phù hợp với tình hình thực tế khách quan và tuyên Bảo Thanh thắng kiện, nhưng cơ quan thuế tiếp tục kiện phúc thẩm. Bảo Thanh chỉ “thoát hiểm” nhờ giữ lại chứng từ thanh toán mua hàng từ nông dân, có ký nhận hợp lệ, chứ không phải tự kê khai giá.

Tìm hiểu vấn đề "Nóng máy" thị trường ô tô

Các dòng xe mới ra mắt trong đợt này hầu hết đều chú trọng đến công nghệ và giá cả - hai vấn đề mà người tiêu dùng quan tâm nhất. Chẳng hạn như dòng xe KIA K3 là dòng xe nhỏ, giá tầm trung nhưng vẫn trang bị nhiều tính năng hiện đại như hệ thống đèn thông minh, hệ thống vô lăng 3 chế độ lái (thoải mái, thể thao và thông thường), chế độ lái tự động, tủ lạnh mini, màn hình cảm ứng 8 inch tích hợp định vị toàn cầu GPS, kết nối bluetooth và camera lùi, điều hòa tự động 2 vùng lạnh độc lập với hệ thống lọc khí bằng ion...
Hàng loạt mẫu xe mới
Từ đầu tháng 10 đến nay, đã có gần 10 mẫu xe mới các loại, từ lắp ráp trong nước đến nhập khẩu, từ xe phổ thông đến xe sang đã ra mắt thị trường Việt Nam. Trong đó, Hyundai Thành Công giới thiệu mẫu xe Accent 5 cửa hoàn toàn mới, Vina Mazda ra mắt phiên bản Mazda 2S với nhiều tính năng hơn, Thaco KIA đưa ra dòng KIA Sorento R, Mercedes-Benz trình làng mẫu xe sang C-Class, Porsche mang đến cho người yêu xe 10 phiên bản của dòng xe sang Panamera...
> Công nghiệp ô tô: Bao giờ hết khó?
> Doanh nghiệp ô tô: Quyết liệt khi thị trường sụt giảm
> Thị trường ô tô: "Vớt vát" mùa cuối năm
> Ngành ô tô Việt Nam đã "vuột cơ hội"?
> Doanh nghiệp ô tô tìm hỗ trợ
Chưa dừng lại ở những thương hiệu trên, một loạt mẫu xe mới sẽ tiếp tục ra mắt trong Vietnam Moto Show 2013 diễn ra tại TP.HCM vào cuối tháng này. Trong đó, Toyota Việt Nam ngoài 6 phiên bản mới của các dòng xe thương hiệu Toyota còn giới thiệu 4 mẫu xe Luxes sẽ vào Việt Nam vào cuối năm nay. Mitsubishi sẽ giới thiệu ba mẫu xe mới, trong đó có hai mẫu xe dành cho nữ. Ford Việt Nam ra mắt mẫu xe ứng dụng động cơ thân thiện với môi trường Ecoboost. Các Hãng BMW, Audi, Honda, Nissan... cũng sẽ mang đến cho khách hàng những mẫu xe chủ lực cho mùa kinh doanh cuối năm.
Các dòng xe mới ra mắt trong đợt này hầu hết đều chú trọng đến công nghệ và giá cả - hai vấn đề mà người tiêu dùng quan tâm nhất. Chẳng hạn như dòng xe KIA K3 là dòng xe nhỏ, giá tầm trung nhưng vẫn trang bị nhiều tính năng hiện đại như hệ thống đèn thông minh, hệ thống vô lăng 3 chế độ lái (thoải mái, thể thao và thông thường), chế độ lái tự động, tủ lạnh mini, màn hình cảm ứng 8 inch tích hợp định vị toàn cầu GPS, kết nối bluetooth và camera lùi, điều hòa tự động 2 vùng lạnh độc lập với hệ thống lọc khí bằng ion...
Sẽ "làm nóng" thị trường?
Với sự ra mắt ồ ạt những dòng xe mới, nhiều nhận định cho rằng thị trường ô tô sẽ "nóng" vào dịp cuối năm. Trên thực tế, tháng 9 vừa qua, doanh số thị trường cũng đã tăng mạnh so với những tháng trước. Số liệu thống kê của Hiệp hội Các nhà sản xuất ô tô Việt Nam (VAMA), cho thấy, đã có 9.785 xe được bán ra, tăng 24% so với tháng trước và 28% so với cùng kỳ năm 2012. Trong đó, lượng xe lắp ráp trong nước tiêu thụ đạt gần 7.700 xe (tăng 18% so với tháng trước) và xe nhập khẩu nguyên chiếc là 2.090 xe (tăng 52%). Có thể nói, đây là tháng thứ 6 liên tiếp, doanh số bán hàng của ngành ô tô cao hơn so với cùng kỳ năm ngoái.
Xếp về vị trí, Toyota vẫn đứng đầu thị trường với doanh số đạt 2.950 chiếc (tăng 30% so vời cùng kỳ năm ngoái). Trường Hải xếp thứ 2 khi tiêu thụ được 2.089 chiếc. Ford giữ vững vị trí thứ 3 với 731 chiếc (tăng 39%). Vị trí thứ 4 thuộc về GM với 430 chiếc. Tuy nhiên, tăng mạnh nhất phải kể đến là Honda với 279% so với cùng kỳ, đạt 383 xe. Như vậy, tính từ đầu năm đến nay, các thành viên VAMA đã bán ra thị trường 67.045 xe, tăng 20% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó, phân khúc xe đa dụng đạt 16.170 chiếc (tăng 47%), xe du lịch đạt 23.591 chiếc, tăng 32,9% và xe thương mại đạt 26.126 chiếc.
Với những dấu hiệu phục hồi và tăng trưởng, các chuyên gia dự báo doanh số bán ra cả năm của toàn ngành có thể đạt 109.000 xe, tăng 9.000 xe so với dự báo hồi đầu năm. Nhiều doanh nghiệp cho biết, dự báo này là hoàn toàn khả thi bởi triển lãm ô tô Việt Nam 2013 đang chuẩn bị diễn ra với cuộc "đổ bộ” của hàng chục mẫu xe mới sẽ khiến cho thị trường trở nên "nóng". Hơn nữa, thời điểm cuối năm là "mùa mua sắm" nên sức mua ô tô sẽ tăng cao. Đặc biệt năm nay, việc giảm thuế trước bạ được áp dụng tại nhiều thành phố lớn cũng góp phần thúc đẩy thị trường ô tô.
Những mẫu xe mới liên tục được đưa ra thị trường

Chia sẻ cùng bạn sự việc nhỏ quy mô nên bé R&D

Mặc dù đã đầu tư khá nhiều cho R&D nhưng bà Thanh Lâm cũng thừa nhận hoạt động này của Công ty chưa được bài bản. "Quy trình, cách làm thì đã tốt nhưng nhân lực vẫn chưa phát huy hết. Ở Công ty, bộ phận này chủ yếu thực hiện ý tưởng chứ chưa phải là người ra ý tưởng - điều quan trọng nhất trong R&D", bà Lâm nói.
Công ty CP Sài Gòn Food thành lập năm 2003, ngay từ đầu, đã chú trọng đến công tác R&D (nghiên cứu, phát triển). Do mới tham gia sản xuất nên công ty "đặt hàng" bộ môn Chế biến Thực phẩm của Trường Đại học Bách khoa TP.HCM về quy trình, công nghệ chế biến chả cá, cá viên.
Hợp đồng đầu tiên trong năm 2003 giữa hai bên có kinh phí 10 triệu đồng. Với hợp tác này, Trường Đại học Bách khoa đã chuyển giao công nghệ chế biến và hướng dẫn Sài Gòn Food trang bị những thiết bị để sản xuất những sản phẩm này.
Từ những dây chuyền thiết bị ban đầu này, Sài Gòn Food phát triển thêm những sản phẩm khác và tiếp tục mua thêm những sáng kiến mới của Trường. Tuy nhiên, song song với việc mua sáng kiến, Công ty cũng đầu tư cho công tác nghiên cứu phát triển tại chỗ.
Lúc đầu, nhân sự của R&D nằm trong Phòng Đảm bảo Chất lượng, nhưng xác định đây là bộ phận quan trọng của Công ty nên cuối năm 2011, Sài Gòn Food đã tách ra thành một phòng độc lập.
Bà Lê Thị Thanh Lâm, Phó tổng giám đốc Công ty CP Sài Gòn Food, cho rằng: "Phải là một phòng riêng biệt thì nhân sự bộ phận R&D mới phát huy hết khả năng. Mỗi năm, Sài Gòn Food đưa ra thị trường không dưới 10 sản phẩm mới, vì thế, nếu không có bộ phận này thì không thể làm được".
Dù là DN có vốn liếng vừa nhưng xác định tầm quan trọng của R&D, Công ty CP Bóng đèn Phích nước Rạng Đông thành lập Trung tâm R&D, hợp tác tích cực với một số trường đại học và viện nghiên cứu.
Hiện nay, Trung tâm đã giúp Rạng Đông đưa ra nhiều sản phẩm mới có giá trị. Trong đó, bóng đèn compact của Công ty có tuổi thọ lên đến 10.000 giờ trong khi đa số các sản phẩm compact trên thị trường chỉ 6.000 giờ.
Nhưng trên thực tế, số lượng những DN chú trọng và đạt được thành quả từ R&D như Sài Gòn Food và Rạng Đông không nhiều. Các DN Việt Nam, đặc biệt là DN nhỏ và vừa vẫn đang rất lúng túng trong công tác R&D.
Kết quả điều tra của Viện Đánh giá khoa học và Định giá công nghệ (Bộ Khoa học và Công nghệ) cho thấy, chỉ có 23% các DN có hoạt động đổi mới, cải tiến công nghệ.
Một cuộc khảo sát bằng bảng câu hỏi có kết hợp phỏng vấn sâu hơn 100 DN trong tháng 9/2013 của Trung tâm Nghiên cứu Kinh doanh và Hỗ trợ doanh nghiệp (BSA) cũng cho kết quả tương tự.
Chỉ có chưa đến 20% trong số 180 DN tham gia khảo sát có tổ chức bộ phận R&D mà theo họ là đủ khả năng để "sáng tạo" ra những cú đột phá mới của DN. Phần lớn nhân sự R&D là những thành viên kiêm nhiệm và ý tưởng trong đổi mới sáng tạo phụ thuộc hoàn toàn vào chủ DN.
Mặc dù đã đầu tư khá nhiều cho R&D nhưng bà Thanh Lâm cũng thừa nhận hoạt động này của Công ty chưa được bài bản. "Quy trình, cách làm thì đã tốt nhưng nhân lực vẫn chưa phát huy hết. Ở Công ty, bộ phận này chủ yếu thực hiện ý tưởng chứ chưa phải là người ra ý tưởng - điều quan trọng nhất trong R&D", bà Lâm nói.
Đã không có bộ phận R&D nhưng các DN cũng chẳng mấy quan tâm đến việc hợp tác với các viện, trường - nguồn cung cấp các giải pháp R&D phong phú. Tuy thời gian qua, mặc dù đã có sự hợp tác giữa DN và viện, trường nhưng chưa nhiều.
Đã vậy, mối quan hệ này cũng không khớp vì "đi tắt". Trên nguyên tắc, các viện, trường nghiên cứu sản phẩm và bán cho DN, sau đó, phòng R&D của DN phải điều chỉnh cho phù hợp với công ty mình.
Thế nhưng, đa phần khi nhận sản phẩm, bộ phận R&D của DN đều nghĩ rằng viện, trường có thể làm ra sản phẩm đáp ứng "tận răng" nhu cầu của DN. Điều này là không thể! Ngược lại, các viện, trường cũng muốn thực hiện các đề tài nghiên cứu phục vụ DN, nhưng không biết làm thế nào để đáp ứng nhu cầu.
Một phần cũng do DN ngại đầu tư tốn kém cho hoạt động R&D mà chỉ muốn giải pháp "mì ăn liền", các Viện trường có sẵn cái gì thì cứ đưa, dẫn đến việc các Viện trường cũng không biết đưa cái gì cho phù hợp

Tìm câu trả lời: Lotte - Bibica: Cuộc chiến vì ai?

Ngoài ra, việc bị “tố” duy trì HĐQT không nhiệm kỳ mà một số các chuyên gia đã chỉ ra là vừa phạm luật, vừa thiếu công bằng trên sân chơi tài chính - nơi mà nguyên tắc ai nắm cổ phần nhiều hơn, người đó thắng chứ không thể biện minh hay mượn áo “gìn giữ thương hiệu Việt”, cũng khiến nhóm này có khả năng sẽ mất đi thiện cảm và lá phiếu từ một số cổ đông nhỏ, lẻ khác.
Lựa chọn đường ai nấy đi trong im lặng, đôi bên tâng bốc nhau, hay dằn hắt rồi lại níu kéo... là những tình huống thường xảy ra khi cuộc “hôn nhân” M&A rạn nứt. Điều này đã xảy ra khá phổ biến ở thị trường VN.
Những gì đang diễn ra tại CTCP Bibica (BBC- sàn HoSE), có vẻ cũng không ngoại lệ.
Nhìn lại thời mật ngọt
Cũng như bất kỳ cuộc “hôn nhân” xuất phát từ tình yêu nào khác, thời kỳ mật ngọt của các nhà sáng lập, các cổ đông trong nước với các cổ đông ngoại tại Bibica, chính là thời đầu hôn nhân. Giai đoạn này, Lotte đã đóng góp khá nhiều cho BBC.
Cuộc chiến Lotte-Bibica trở thành cuộc đấu “căng thẳng” với chủ yếu những thông tin phát đi từ nhóm cổ đông nội: Lotte đang có ý đồ thâu tóm BBC
Có thể thấy điều đó qua những thông tin công bố đến các cổ đông, trong các bản báo cáo thường niên (BCTN) của BBC, với những lời “có cánh” như :
“Ngày 4/10/2007, Lễ ký kết Hợp đồng hợp tác chiến lược giữa Bibica và Lotte đã diễn ra, theo chương trình hợp tác, Bibica đã chuyển nhượng cho Lotte 30% tổng số cổ phần (khoảng 4,6 triệu cổ phần). Tập đoàn Lotte - Hàn Quốc là 1 trong những tập đoàn bánh kẹo lớn nhất tại Châu Á, sau khi trở thành đối tác chiến lược, Lotte hỗ trợ Bibica trong lĩnh vực công nghệ, bán hàng và tiếp thị, nghiên cứu phát triển; phối hợp với Bibica thực hiện dự án công ty Bibica Miền Đông giai đoạn 2 (Bình Dương) tạo điều kiện giúp Bibica mở rộng và phát triển kinh doanh trong lĩnh vực bánh kẹo và trở thành một trong những Cty sản xuất kinh doanh bánh kẹo hàng đầu VN...” – Đây là lời được lặp đi lặp lại như một cột mốc trong lịch sử của BBC, được bắt đầu với BCTN 2008.
Tiếp đó, là bước hiện thực hóa hợp đồng hôn nhân. Năm 2010, mối quan hệ này vẫn còn êm đẹp với định hướng đầu tư nhãn hiệu năm 2011 cho Lotte Pie là: Lotte Confectionery hỗ trợ BBC 1,1 triệu USD tại thị trường VN. Nhưng cũng trong năm nay, cùng với Quỹ đầu tư Chứng khoán Bản Việt, SSI chính thức đặt chân vào BBC dù tỉ lệ sở hữu rất nhỏ: trên 2%.
Bước sang 2011, dây chuyền sản xuất bánh LottepPie miền Đông bị sự cố hỏa hoạn. BBC mất 155 tỉ đồng phí phục hồi và được Cty bảo hiểm trả. “Tuy nhiên sự cố này cũng ảnh hưởng đến nguồn vốn Cty và và kế hoạch thâm nhập thị trường của sản phẩm Lottepie trong năm 2011”. - Một cách "mê tín”, dường như đây là dấu hiệu đánh dấu bước ngoặt xấu trong quan hệ Lotte- BBC.
Báo cáo của Ban kiểm soát BBC năm nay cũng không còn nhấn mạnh sự hợp tác của Lotte, mà đặt vai trò Ban điều hành lên trên và ngoài ra, còn đề cập đến cơ hội để BBC “tiếp cận những công nghệ sản xuất bánh kẹo hàng đầu thế giới và tìm kiếm đối tác tiềm năng” (trang 17/30-BCTN 2011).
Năm 2012, ngoài ảnh hưởng của sự cố hỏa hoạn năm trước, BBC tăng trưởng xuất khẩu âm 20% do không thống nhất được giá sản xuất sản phẩm Chocopie với Lotte. Quan hệ giữa đại diện cổ đông Lotte với nhóm cổ đông trong nước tại Bibica lộ rõ căng thẳng.
Lotte chính thức nâng tỉ lệ sở hữu BBC lên 38,6%. SSI trở thành cổ đông lớn thứ 2 với 20,7% thông qua công ty TNHH quản lý Quỹ SSI và công ty Đầu tư BĐS SSI (tính đến ngày 16/1/2013). Cuộc chiến Lotte-Bibica trở thành cuộc đấu “căng thẳng” với chủ yếu những thông tin phát đi từ nhóm cổ đông nội: Lotte đang có ý đồ thâu tóm BBC.
Có vẻ như đỉnh điểm căng thẳng trong quan hệ 2 bên chính là lúc Lotte và BBC không tổ chức được Đại hội đồng cổ đông thường niên lần 1 năm 2013 và phải lên kế hoạch lần 2, vào 28/10 tới.
Đến lúc này (tháng 10/2013), Lotte vẫn nắm vị thế cổ đông lớn nhất và có khả năng sẽ nâng tỉ lệ sở hữu lên 43%, mà theo nhiều nguồn tin, khả năng này đã gần như nắm chắc và động thái công bố đăng ký mua thêm của Lotte chỉ là hợp thức hóa những cổ phần đã mua thỏa thuận từ các nhà đầu tư khác.
Và hơn thế, là một động thái “rung cây dọa khỉ” để tranh thủ thêm lá phiếu của các cổ đông vốn hay có tâm lý nghiêng về “kẻ mạnh” trong kỳ đại hội. Theo sát vẫn là SSI với tỉ lệ sở hữu gần 35%. Nhóm cổ đông trong nước, không bao gồm SSI và những cổ đông nhỏ lẻ, được cho đang nắm khoảng 3%.
Cán cân lợi thế nghiêng về đâu?
Với những diễn biến kể trên, có vẻ như Lotte đang thắng thế. Thực tế chưa hẳn.
Lotte đang có 3 vấn đề phải đối mặt: Thứ nhất, cho dù nắm gần như 50% vốn chủ sở hữu, nếu BBC không thay đổi cung cách bầu nhiệm kỳ HĐQT gián tiếp quan nhiệm kỳ của 1,2 thành viên trong kỳ, điều mà UBCKNN cho là BBC phải làm lại theo đúng Luật DN 2005 và theo đúng Điều lệ BBC là HĐQT phải có nhiệm kỳ 5 năm (vì HĐQT đương nhiệm đã kéo dài 7 năm), thì có khả năng 2 vị đại diện vốn – 2 thành viên HĐQT của Lotte năm nay, do đã hết nhiệm kỳ 5 năm, sẽ gặp phải tình huống như đã xảy ra với cựu thành viên HĐQT, giám đốc Tài chính Seok Hoon Yang là không đạt tỉ lệ phiếu bầu (53,32%/65%) và phải rời ghế HĐQT năm 2012.
Thứ hai, Lotte đang gặp phải một trở ngại trong việc thể hiện vai trò của người chủ sở hữu chi phối vốn cổ phần: Cho dù có 2 thành viên HĐQT và nếu 2 vị này tiếp tục đạt phiếu bầu để đương nhiệm, 2 lá phiếu của Lotte liệu có đủ để can thiệp và thậm chí “đối đầu”với lá phiếu của những cổ đông còn lại, trong việc đưa ra những vấn đề có tính quyết định tại Cty?
Trong tình huống nếu BBC tiếp tục giữ số lượng 5 thành viên HĐQT, không bầu mới hay không nâng số lượng thành viên như đề nghị của Lotte, khả năng bầu lại, bãi miễn để tìm một ghế cho cổ đông SSI cũng có thể xảy ra. Lúc đó, lá phiếu của SSI sẽ có có ý nghĩa lớn vì nghiêng về bên nào, cán cân sẽ nghiêng về bên đó.
Giả sử SSI nghiêng về nhóm cổ đông trong nước và cộng tỉ lệ cổ phần sở hữu 2 nhóm lại vẫn thấp hơn Lotte, thì nhóm này vẫn có khả năng thắng thế với nguyên tắc bầu dồn phiếu khi ĐHCĐ, hoặc nguyên tắc đếm đầu phiếu biểu quyết trong HĐQT.
Thứ ba và tuy khá mơ hồ nhưng không kém nặng nề, Lotte đang phải đối mặt với sự thiếu thiện cảm của một số cổ đông và người ngoài cuộc vì nghi ngại Lotte muốn “thâu tóm thương hiệu Việt”, cho dù Lotte đã chính thức khẳng định chỉ là nhà đầu tư tài chính.
Trước những rào cản của Lotte, nhóm cổ đông trong nước hẳn đã mừng vui? Không! Khó khăn của nhóm này là tỉ lệ sở hữu cổ phần quá thấp, cho dù có lá phiếu trong HĐQT áp đảo.
Ngoài ra, việc bị “tố” duy trì HĐQT không nhiệm kỳ mà một số các chuyên gia đã chỉ ra là vừa phạm luật, vừa thiếu công bằng trên sân chơi tài chính - nơi mà nguyên tắc ai nắm cổ phần nhiều hơn, người đó thắng chứ không thể biện minh hay mượn áo “gìn giữ thương hiệu Việt”, cũng khiến nhóm này có khả năng sẽ mất đi thiện cảm và lá phiếu từ một số cổ đông nhỏ, lẻ khác.
Đây chỉ là một trong số những bài học M&A đã và đang diễn ra, buộc các DN từ 2 phía phải quan tâm hơn đến chuyện tìm hiểu nhau kỹ trước khi gắn bó.
Một chuyên gia tư vấn Luật đề xuất giải pháp xử lý nút thắt của Lotte và BBC là bầu lại HĐQT có thêm nhiều thành viên theo như Điều lệ BBC và Luật DN cho phép. Thực tế, đây cũng chỉ là giải pháp tình thế để 2 bên Lotte và BBC có thời gian dọn dẹp hậu quả “cơm chẳng lành, canh chẳng ngọt”.
Kể cả khi chọn giải pháp đó, SSI vẫn là kẻ “tọa sơn quan hổ đấu”, ung dung đắc lợi. Có gì mà không ung dung? SSI nếu thuận tình về nhóm cổ đông trong nước, có thể sẽ nắm vị trí số 1 dài lâu.
Nếu thuận lý với Lotte, có khả năng SSI sẽ hiện thực hóa lợi nhuận của khoản đầu tư tài chính BBC sớm hơn dự kiến. Phủ nhận hay không, SSI vẫn rõ là nhà đầu tư tài chính và hơn thế, BBC cũng không nằm trong danh mục chuỗi liên kết DN ngành dọc nông nghiệp mà SSI đang tính hướng bỏ vốn dài lâu. Lotte và BBC càng căng thẳng, SSI càng có giá.
Thay lời kết
Từ cuộc hôn nhân của Lotte - Bibica, bài học về tìm kiếm nhà đầu tư đối tác, nhìn từ phía DN trong nước, đã quá rõ. Nhìn từ phía nhà đầu tư ngoại, hẳn họ cũng đã thu lượm được không ít kinh nghiệm đắng cay khi chọn và thỏa thuận rót vốn vào các DN tư nhân mà các điều kiện, điều khoản không ngay từ đầu rõ ràng.
Đây chỉ là một trong số những bài học M&A đã và đang diễn ra, buộc các DN từ 2 phía phải quan tâm hơn đến chuyện tìm hiểu nhau kỹ trước khi gắn bó. Nhưng nó cũng là chuyện khiến người ngoài cuộc suy nghĩ nhiều khi xu hướng hôn nhân với rất nhiều cửa mở ngày càng rộng, từ WTO, FTA tới TPP...
Quan trọng hơn hết, vẫn là người ngoài cuộc – thị trường – người tiêu dùng – nền kinh tế, về dài lâu, sẽ được hưởng lợi gì, hay thiệt hại gì, từ những hợp đồng hôn nhân như vậy?